
Sáng 8/7, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với ngành Nội vụ về chất lượng nguồn lao động, giải pháp tạo việc làm bền vững và công tác đào tạo nguồn lực trong giai đoạn phát triển mới.
Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương.
Sau khi nghe báo cáo và các ý kiến trao đổi tại buổi làm việc, phát biểu kết luận, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, phải nhìn thẳng vào hạn chế. Điểm nghẽn hiện nay không phải thiếu lao động về số lượng, mà chủ yếu là thiếu lao động phù hợp với yêu cầu phát triển; thiếu kỹ năng nghề, kỷ luật, tác phong công nghiệp, ngoại ngữ, kỹ năng số, kỹ năng xanh; thiếu kỹ thuật viên, công nhân lành nghề, nhân lực thực hành, nhân lực công nghệ, nhân lực quản trị trung gian. Lao động phi chính thức còn lớn, thất nghiệp thanh niên còn cao, cơ cấu đào tạo và việc làm còn lệch, già hóa dân số diễn ra nhanh.
Vì vậy, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, đánh giá chất lượng nguồn lao động phải chuyển từ coi trọng số lượng sang coi trọng chất lượng, hiệu quả sử dụng, khả năng đóng góp cao và năng suất lao động. Thước đo cuối cùng là chất lượng việc làm, chất lượng nguồn nhân lực, mức độ đóng góp của người lao động vào năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, tạo việc làm bền vững ở đô thị phải gắn với mô hình tăng trưởng mới, doanh nghiệp và chất lượng cuộc sống. Đô thị phải trở thành không gian tạo việc làm có năng suất, có giá trị cao của nền kinh tế. Đô thị không chỉ là nơi tập trung công nghiệp, dịch vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và các mô hình kinh doanh hiện đại, đồng thời cũng là nơi tập trung lao động di cư, lao động phi chính thức, lao động nền tảng và áp lực rất lớn về nhà ở, hạ tầng xã hội, dịch vụ công. Vì vậy, mục tiêu không chỉ là tạo thêm việc làm mà là tạo việc làm tốt hơn, chính thức hơn, có năng suất, có thu nhập, bảo hiểm, kỹ năng và có cơ hội phát triển nghề nghiệp đối với người lao động.
Do đó, cần phát triển mạnh các cầu là lao động đô thị thông qua thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nhất là kinh tế tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, thương mại điện tử, dịch vụ chất lượng cao, kinh tế số và kinh tế xanh. Quy hoạch phát triển phải gắn với mục tiêu đào tạo việc làm bền vững, thu hút và ưu đãi đầu tư, hướng tới các dự án tạo việc làm có năng suất cao, giá trị cao, chuyển giao công nghệ và đào tạo các lao động trong doanh nghiệp.
Đồng thời phải phát triển mạnh khu vực việc làm chính thức, từng bước thu hẹp khu vực làm việc phi chính thức, mở rộng diện bao phủ của quan hệ lao động và an sinh xã hội; cần có chính sách phù hợp về lao động phi chính thức, lao động nền tảng, hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ, chuyển dần sang khu vực chính thức, lợi nhuận cao hơn, đảm bảo cho người lao động có hợp đồng được tham gia bảo hiểm, được bảo vệ quyền lợi và có điều kiện nâng cao kỹ năng...
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu, việc làm bền vững ở nông thôn phải gắn với nâng giá trị lao động, chuyển dịch có kỹ năng và có sinh kế bền vững. Nông thôn không chỉ là nơi cung cấp lao động giá rẻ cho đô thị và khu công nghiệp mà phải trở thành không gian phát triển khởi nghiệp, tạo việc làm và làm giàu chính đáng. Mục tiêu không chỉ là giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp mà phải là nâng thu nhập cho người dân ở nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch lao động từ nông nghiệp năng suất thấp, sang nông nghiệp giá trị cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ hiện đại và các ngành kinh tế mới ngay tại các địa phương.
Phải tạo việc làm tại chỗ bằng cách nâng giá trị việc làm trong nông nghiệp. Nông nghiệp phải chuyển mạnh từ sản xuất thô, năng suất thấp, sang nông nghiệp giá trị cao, công nghệ cao, nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn nguồn gốc chế biến, logistics, thương mại điện tử, nông sản... Phải phát triển công nghiệp nông thôn, làng nghề, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản, dịch vụ cơ khí, vận tải, thương mại, môi trường, năng lượng tái tạo phù hợp với từng vùng; phát triển OCOP, du lịch nông thôn, du lịch cộng đồng, kinh tế hợp tác, hợp tác xã kiểu mới, kinh tế hộ, liên kết chuỗi khởi nghiệp nông thôn...
Phải tạo việc làm bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với khơi dậy nội lực giảm nghèo bền vững và giữ gìn bản sắc. Việc làm bền vững của vùng đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là chính sách lao động mà còn là chính sách dân tộc, chính sách giảm nghèo, chính sách phát triển con người và củng cố niềm tin của nhân dân.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, giáo dục nghề nghiệp và đào tạo kỹ năng phải gắn với sinh kế thực tế của từng vùng, từng dân tộc, từng cộng đồng, không áp đặt mô hình chung, không đào tạo theo phong trào, cần tập trung vào nông nghiệp đặc sản, kinh tế rừng, dược liệu, chăn nuôi thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng, dịch vụ biên mậu, thương mại điện tử, sản phẩm địa phương, bảo vệ và phát triển rừng. Phải mở rộng kết nối thị trường dịch vụ việc làm cho người lao động ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhà nước hỗ trợ hạ tầng, tín dụng, thông tin, đào tạo, tư vấn pháp luật, doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất liên kết, bao tiêu, hướng dẫn kỹ thuật, xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng địa phương, tổ chức kết nối làm việc an toàn. Phát triển việc làm ở vùng đồng bào dân tộc gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường, giữ đất, giữ nguồn nước, giữ biên cương. Mục tiêu không chỉ có thêm việc làm mà phải là việc làm phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa, tập quán sản xuất, giúp đồng bào ổn định đời sống, giảm nghèo bền vững, tự tin hội nhập, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
Theo đó, phải đổi mới mạnh mẽ, phân luồng giáo dục nghề nghiệp: đại học ứng dụng, cao đẳng thực hành, trường nghề chất lượng cao… Cần xây dựng cơ chế liên thông mở giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học. Nghiên cứu phát triển mô hình trung học nghề phù hợp, nâng vị thế của người thợ giỏi, kỹ thuật viên giỏi, lao động vận hành giỏi. Phải đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, của ngành, của địa phương và của thị trường. Phải lấy chuẩn kỹ năng và kết quả đầu ra là thước đo ngân sách đào tạo, không cấp chủ yếu theo số lớp, số người học, số chứng chỉ và phải gắn với tỷ lệ có việc làm, mức lương sau đào tạo, mức độ hài lòng của doanh nghiệp, tỷ lệ làm đúng nghề, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội. Phát triển mạnh đào tạo lại, đào tạo nâng cao, học tập suốt đời. Phải mở rộng kênh tạo việc làm, nâng kỹ năng và bổ sung nhân lực chất lượng cao.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, trong bối cảnh công nghệ, chuỗi cung ứng lao động và tri thức chuyển dịch nhanh, phải vừa tạo ra việc làm bền vững ở trong nước, vừa đưa được lao động Việt Nam ra thị trường quốc tế để học hỏi, đồng thời thu hút có chọn lọc tri thức, chuyên gia, nhân tài phục vụ phát triển đất nước, nhất là đối với những lĩnh vực then chốt, những lĩnh vực chiến lược.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo, xây dựng đề án về phát triển nguồn nhân lực quốc gia và thị trường lao động hiện đại, làm rõ mục tiêu, lộ trình, nguồn lực và cơ chế phối hợp. Phải rà soát thực trạng chất lượng nguồn lao động, xây dựng bản đồ thiếu hụt lao động và kỹ năng theo ngành, vùng, địa phương, trong đó có đô thị, nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phải ban hành danh mục nghề trọng điểm cần phải đào tạo, đào tạo lại. Triển khai chương trình tạo việc làm bền vững cho thanh niên lao động nông thôn, lao động đô thị, phi chính thức, lao động tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, lao động bị tác động bởi chuyển đổi số, tự động hóa, lồng ghép các chính sách việc làm trong các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội. Hoàn thiện chính sách phát triển khu vực làm việc chính thức, hỗ trợ doanh nghiệp tạo việc làm, nâng cao hiệu quả, đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, đồng thời thu hút, trọng dụng nhân tài và lao động kỹ thuật cao. Xây dựng bộ chỉ số giám sát hàng năm về chất lượng nguồn lao động, việc làm bền vững, đào tạo, thu nhập, bảo hiểm xã hội và mức độ hài lòng của người lao động, của doanh nghiệp.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, chất lượng nguồn lao động Việt Nam là tài sản vô giá của quốc gia. Chăm lo cho người lao động là chăm lo cho tương lai của đất nước. Đầu tư cho nguồn lực không chỉ là chính sách xã hội mà là chiến lược phát triển quốc gia. Nếu biết khơi dậy, đào tạo, sử dụng, bảo vệ và chuyển hóa hiệu quả nguồn nhân lực con người, chúng ta sẽ biến lợi thế về dân số thành lợi thế phát triển, biến khát vọng thành sức mạnh, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới./.
Dangcongsan.vn