43
+ aa -

Tin tức - Sự kiện

Cập nhật lúc : 24/08/2026 16:50
Để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng cho kinh tế - xã hội thành phố Huế
Trong bước chuyển mình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Huế đứng trước yêu cầu phát triển có tính chiến lược: vừa phát huy các giá trị đặc hữu của đô thị di sản, vừa tạo ra những động lực tăng trưởng mới có năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không còn chỉ là công cụ hỗ trợ mà ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tác động sâu sắc đến năng suất, chất lượng, hiệu quả và phương thức quản trị. Với Huế, lựa chọn KHCN và ĐMST làm động lực tăng trưởng không chỉ phù hợp với xu thế phát triển mà còn là con đường để chuyển hóa tri thức, văn hóa, di sản và lợi thế con người thành nguồn lực phát triển mới.
Hội thảo khoa học với chủ đề “Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong phát triển bền vững các ngành kinh tế - xã hội thành phố Huế”

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển KHCN, ĐMST và CĐS là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị và phát triển kinh tế - xã hội. Tinh thần này đặt ra yêu cầu đối với các địa phương phải chuyển mạnh từ tư duy ứng dụng công nghệ đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm, nhà khoa học là lực lượng then chốt và Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt.

Trên địa bàn thành phố Huế, Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/4/2026 của Thành ủy Huế về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 đã cụ thể hóa định hướng này, xác định đây là động lực chính để nâng cao chất lượng tăng trưởng, xây dựng Huế trở thành trung tâm KHCN, ĐMST và CĐS của miền Trung và cả nước.

Những kết quả bước đầu tạo nền tảng mới

Thực tiễn cho thấy, Huế đã hình thành nhiều tiền đề quan trọng. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KHCN được triển khai trong các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, y tế, giáo dục, môi trường và quản lý đô thị; hệ thống chính quyền số, đô thị thông minh và nền tảng Hue-S tiếp tục phát huy hiệu quả.

Theo tổng hợp của ngành KHCN thành phố, năm 2025 có 17 nhiệm vụ KHCN được công nhận và chuyển giao; tỷ lệ kết quả nghiên cứu được chuyển giao, ứng dụng đạt khá cao. Hệ sinh thái ĐMST có bước tiến rõ nét với 438 sáng kiến được công bố, 94 hồ sơ tham gia cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo, 52 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đang hoạt động; 12 đơn sáng chế, giải pháp hữu ích, 156 đơn nhãn hiệu và 171 văn bằng bảo hộ nhãn hiệu được ghi nhận. Kinh tế số ước chiếm khoảng 15% GRDP; hạ tầng số được đầu tư đồng bộ, 100% quy trình nội bộ được số hóa và tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến đạt mức cao.

Một dấu ấn đáng chú ý là Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) của Huế năm 2025 vươn lên vị trí thứ 5 toàn quốc, từ vị trí thứ 13 năm 2024. Kết quả này cho thấy năng lực đổi mới sáng tạo của thành phố đã có bước cải thiện đáng kể, phản ánh sự chuyển biến đồng bộ về thể chế, nguồn lực, hạ tầng, thị trường và năng lực doanh nghiệp.

Đằng sau những kết quả đó là hệ sinh thái tri thức đặc biệt của Huế với Đại học Huế, Bệnh viện Trung ương Huế, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, bệnh viện chuyên sâu và cộng đồng doanh nghiệp. Cùng với đó là lợi thế khác biệt của một đô thị di sản có hơn bảy thế kỷ hình thành và phát triển, sở hữu hệ thống di sản phong phú, trong đó có 8 di sản được UNESCO ghi danh. Đây là những “tài sản mềm” có khả năng tạo ra giá trị kinh tế lớn nếu được số hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thiết kế lại sản phẩm và kết nối hiệu quả với thị trường.

 

Lễ phát động Cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo lần thứ 11 năm 2026

Động lực mới chưa trở thành sức kéo đủ mạnh

Những kết quả tích cực đạt được mới là nền tảng ban đầu. Khoảng cách giữa năng lực nghiên cứu, chính quyền số với năng lực tạo giá trị của khu vực doanh nghiệp vẫn còn đáng kể. Quy mô doanh nghiệp công nghệ còn nhỏ; số lượng doanh nghiệp KHCN và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo chưa nhiều; khả năng tiếp cận vốn, thị trường và công nghệ còn hạn chế. Mức độ ứng dụng công nghệ giữa các doanh nghiệp chưa đồng đều, trong khi hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa tương xứng với tiềm lực tri thức của Huế. Khoảng cách giữa chính quyền số với phát triển kinh tế số và xã hội số vẫn còn khá lớn.

Nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, bán dẫn và công nghệ số còn thiếu; năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ của nhiều doanh nghiệp chưa cao. Liên kết “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp” chưa thực sự hình thành chuỗi giá trị khép kín từ đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ đến thương mại hóa.

Một số nhiệm vụ KHCN vẫn có nguy cơ dừng lại ở sản phẩm nghiên cứu mà chưa chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và doanh thu. Vì vậy, thước đo cuối cùng của KHCN và ĐMST cần chuyển mạnh từ câu hỏi “có bao nhiêu đề tài” sang “tạo ra bao nhiêu giá trị mới, năng suất mới, sản phẩm mới và doanh nghiệp mới”.

Quan niệm lại về tăng trưởng và động lực tăng trưởng

Tăng trưởng trong giai đoạn mới không thể chủ yếu dựa vào mở rộng vốn, đất đai và lao động. Một mô hình tăng trưởng hiện đại phải dựa ngày càng nhiều hơn vào năng suất, chất lượng và đổi mới sáng tạo. Trong cách tiếp cận này, KHCN tạo ra tri thức và công nghệ; ĐMST biến tri thức và công nghệ thành sản phẩm, quy trình, mô hình kinh doanh và phương thức quản trị mới; CĐS tạo hạ tầng dữ liệu và khả năng mở rộng nhanh các đổi mới. Chuỗi tác động cần được nhìn nhận theo logic: tri thức → đổi mới sáng tạo → năng lực hấp thụ công nghệ → năng suất → tăng trưởng bứt phá.

Đặc biệt, TFP - năng suất các nhân tố tổng hợp - phải được coi là một chỉ báo quan trọng phản ánh chất lượng tăng trưởng. Nghị quyết số 05-NQ/TU đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng GRDP đạt trên 55%, tỷ trọng kinh tế số tối thiểu 30% GRDP và PII thuộc nhóm 10 địa phương dẫn đầu cả nước. Đây không chỉ là các mục tiêu về chỉ số hay thứ hạng mà cần được chuyển thành yêu cầu cụ thể đối với từng ngành, từng doanh nghiệp và từng dự án đầu tư: công nghệ nào làm tăng năng suất; đổi mới nào tạo thêm giá trị; dữ liệu nào giúp giảm chi phí; sản phẩm nào có khả năng mở rộng thị trường.

Lễ ký kết hợp tác giữa Thành Đoàn và Sở Khoa học và Công nghệ

Với thành phố Huế, động lực tăng trưởng mới càng cần được thiết kế theo hướng riêng biệt, phù hợp với đặc trưng và lợi thế của đô thị di sản. Huế không nhất thiết chạy theo mọi công nghệ mà cần ưu tiên những công nghệ giải quyết hiệu quả các bài toán phát triển của thành phố.

Di sản và văn hóa có thể trở thành dữ liệu, nội dung và sản phẩm sáng tạo; y tế chuyên sâu có thể trở thành nền tảng phát triển y tế số, công nghệ sinh học và du lịch chăm sóc sức khỏe; nông nghiệp và vùng đầm phá có thể phát triển theo hướng công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn; giáo dục và đại học có thể trở thành nguồn cung tri thức, nhân lực và doanh nghiệp công nghệ. Đó chính là cách chuyển hóa lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh.

Để KHCN và ĐMST thực sự trở thành động lực tăng trưởng

Thứ nhất, tạo đột phá về thể chế và phương thức quản trị KHCN. Thành phố cần tiếp tục thực hiện tinh thần “thể chế đi trước một bước”, đổi mới cơ chế đặt hàng và nghiệm thu nhiệm vụ theo hướng lấy hiệu quả ứng dụng, khả năng thương mại hóa và tác động kinh tế - xã hội làm tiêu chí quan trọng. Đồng thời, nghiên cứu các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với công nghệ và mô hình kinh doanh mới; hình thành Quỹ hỗ trợ KHCN, ĐMST; có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D và chấp nhận rủi ro hợp lý trong quá trình đổi mới.

Đặc biệt, cần dựa vào các cơ chế, chính sách của Trung ương để ban hành quy định hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ, qua đó tạo sức bật mới về năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh.

Thứ hai, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái ĐMST. Chính quyền cần chủ động đặt ra các “bài toán của Huế” để doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, viện nghiên cứu và trường đại học cùng tham gia giải quyết; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ.

Cần thúc đẩy mạnh mẽ mô hình liên kết “Ba nhà”, hình thành chuỗi liên kết thực chất từ nghiên cứu - thử nghiệm - sản xuất - thị trường. Chuyển giao công nghệ, thương mại hóa sáng chế, giải pháp hữu ích và tài sản trí tuệ phải từng bước trở thành một thị trường thực sự, có người mua, người bán và cơ chế tài chính phù hợp.

Thứ ba, tập trung nguồn lực vào các ngành có lợi thế và khả năng tạo giá trị gia tăng cao. Đối với văn hóa - du lịch, cần xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa dựa trên số hóa di sản, công nghệ 3D, thực tế ảo và thực tế tăng cường (VR/AR), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các nền tảng du lịch thông minh; đồng thời phát triển sản phẩm sáng tạo, nội dung số, thiết kế, thời trang, nghệ thuật và sản phẩm lưu niệm mang thương hiệu Huế. Mục tiêu không chỉ là bảo tồn tốt hơn mà còn phải tạo thêm thị trường, việc làm và doanh thu từ di sản; từng bước biến di sản thành tài sản, tri thức bản địa thành giá trị hàng hóa.

Đoàn công tác Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Huế làm việc, khảo sát tại Bệnh viện Trung ương Huế về tình hình thực hiện Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân (tháng 6/2026)

Trong nông nghiệp, cần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn; ứng dụng công nghệ trong giống, canh tác, bảo quản, chế biến, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử; phát triển sản phẩm OCOP và các đặc sản địa phương thành những thương hiệu có giá trị cao. Với vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, ứng dụng công nghệ cần gắn với nuôi trồng thủy sản bền vững, chế biến sâu, du lịch sinh thái và bảo tồn hệ sinh thái, qua đó tạo giá trị đa tầng thay vì khai thác tài nguyên theo chiều rộng.

Đối với lĩnh vực y - dược, Huế cần phát triển mạnh hơn chuỗi giá trị y tế - đào tạo - nghiên cứu - công nghiệp dược - du lịch chăm sóc sức khỏe. Lợi thế của Bệnh viện Trung ương Huế, Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế và hệ thống cơ sở y tế chuyên sâu cần được kết nối với công nghệ sinh học, y học chính xác, y tế số, dược liệu và chăm sóc sức khỏe thông minh. Đây có thể trở thành một trong những động lực tăng trưởng có hàm lượng tri thức cao, đồng thời tạo thêm nhiều việc làm chất lượng cao.

Thứ tư, xây dựng hạ tầng dữ liệu và AI như một hạ tầng phát triển mới. Huế cần tiếp tục hoàn thiện kho dữ liệu dùng chung, dữ liệu mở, các trung tâm dữ liệu và nền tảng phân tích dữ liệu; thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý đô thị, du lịch, y tế, giáo dục, văn hóa và cải cách hành chính.

Cùng với phát triển công nghệ số, phải coi an toàn thông tin, an ninh mạng và an ninh dữ liệu là yêu cầu xuyên suốt. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả, thành phố có thể từng bước chuyển từ “quản lý bằng kinh nghiệm” sang “quản trị dựa trên dữ liệu”, nâng cao chất lượng ra quyết định và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đồng thời, cần tạo hành lang pháp lý phù hợp để doanh nghiệp khai thác dữ liệu hợp pháp, an toàn, phục vụ phát triển các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới trong nền kinh tế số.

Thứ năm, đầu tư cho con người và các thiết chế KHCN. Huế cần có chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và giữ chân chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư, doanh nhân công nghệ; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực trong các lĩnh vực AI, khoa học dữ liệu, bán dẫn, công nghệ số và công nghiệp sáng tạo.

Đại học Huế cần được đặt vào vị trí hạt nhân của hệ sinh thái tri thức và ĐMST của thành phố; cùng với các bệnh viện, viện nghiên cứu và doanh nghiệp hình thành mạng lưới nghiên cứu - đào tạo - chuyển giao công nghệ có tính liên kết cao. Đồng thời, cần phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm, không gian sáng tạo và các thiết chế hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo.

Thứ sáu, gắn KHCN và ĐMST với tăng trưởng xanh, phát triển bền vững. Đặc trưng đô thị di sản, xanh và thông minh của Huế đòi hỏi công nghệ phải góp phần giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây vừa là yêu cầu về bảo vệ môi trường, vừa mở ra những thị trường mới cho các sản phẩm, dịch vụ và doanh nghiệp công nghệ xanh.

Có thể thấy, Huế đã có những nền tảng đáng kể để đưa KHCN và ĐMST trở thành động lực tăng trưởng mới. Việc PII năm 2025 đứng thứ 5 toàn quốc, cùng những kết quả nổi bật về chuyển đổi số, khởi nghiệp sáng tạo và ứng dụng KHCN là những tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, thứ hạng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng suất, doanh thu, việc làm, chất lượng dịch vụ và chất lượng cuộc sống của người dân.

Chương trình số 286/CTr-UBND ngày 19/5/2026 của UBND thành phố về thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU giai đoạn 2026 - 2030 tiếp tục tạo cơ sở để các nhiệm vụ được cụ thể hóa và triển khai đồng bộ hơn.

Trong giai đoạn phát triển mới, vấn đề cốt lõi không phải là Huế có bao nhiêu công nghệ mà là Huế tạo ra được bao nhiêu giá trị mới từ công nghệ và tri thức. Nếu xây dựng được một hệ sinh thái trong đó Nhà nước kiến tạo, nhà khoa học sáng tạo, nhà trường đào tạo, doanh nghiệp đầu tư và thị trường hấp thụ, KHCN và ĐMST sẽ thực sự trở thành lực lượng sản xuất mới.

Khi đó, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn tạo ra sản phẩm và giá trị kinh tế; dữ liệu không chỉ được lưu trữ mà trở thành nguồn lực phát triển; nghiên cứu không chỉ nằm trong phòng thí nghiệm mà đi vào doanh nghiệp và đời sống; đổi mới sáng tạo không chỉ là phong trào mà trở thành năng lực cạnh tranh của thành phố.

Đó là con đường để Huế tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng hơn và bền vững hơn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng thành phố di sản xanh, thông minh, giàu bản sắc và có vị thế ngày càng cao trong khu vực và cả nước.

Hồ Thắng

Tài liệu tham khảo chính:

  • Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
  • Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/4/2026 của Thành ủy Huế về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035.
  • Chương trình số 286/CTr-UBND ngày 19/5/2026 của UBND thành phố Huế thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU.
  • Thông tin của ngành Khoa học và Công nghệ thành phố Huế về kết quả hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026.
  •