29
+ aa -

Văn hóa - Giáo dục - Du lịch

Cập nhật lúc : 20/01/2026 10:07
Làng Sình Huế: Nơi lưu giữ hồn tranh tín ngưỡng dân gian
Từ trung tâm thành phố Huế, xuôi theo dòng sông Hương khoảng 9km, làng Sình thuộc xã Phú Mậu (nay là phường Dương Nỗ) hiện lên như một không gian văn hóa đặc sắc của vùng đất cố đô. Làng Sình, tên chữ là Lại Ân, là một trong những làng cổ hình thành sớm ở Đàng Trong, nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian phục vụ tín ngưỡng – một di sản văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc.

Theo các nhà nghiên cứu, tên gọi “Sình” có thể bắt nguồn từ đặc điểm địa hình sình lầy ven sông, trong khi tên chữ “Lại Ân” mang ý nghĩa “cậy nhờ ơn”, thể hiện lòng biết ơn của người dân đối với thần linh và tổ tiên. Nằm ven sông Hương, đối diện là Thanh Hà – một thương cảng sầm uất thời các chúa Nguyễn, làng Sình từng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống đô thị - thương nghiệp của xứ Thuận Hóa. Đây cũng là trung tâm văn hóa của vùng, với chùa Sùng Hóa từng là một trong những ngôi chùa lớn của Hóa Châu xưa.

Không chỉ là làng xã được hình thành sớm, làng Sình còn được biết đến rộng rãi nhờ nghề làm tranh dân gian tín ngưỡng độc đáo. Ngày 12/5/2016, làng nghề tranh dân gian làng Sình được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) công nhận là làng nghề truyền thống theo Quyết định số 971/QĐ-UBND; tiếp đó, ngày 16/4/2019, điểm du lịch làng nghề truyền thống Hoa giấy Thanh Tiên – Tranh dân gian làng Sình được công nhận theo Quyết định số 949/QĐ-UBND, khẳng định giá trị văn hóa – du lịch của làng nghề trong đời sống đương đại. Nghề tranh làng Sình còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như nghề giấy, nghề bồi, nghề hồ điệp, nghề Sình… phản ánh tính chất đặc thù của một nghề thủ công làm tranh giấy phục vụ nhu cầu tín ngưỡng dân gian. Khác với tranh Đông Hồ hay Hàng Trống ở miền Bắc mang tính trang trí và thưởng ngoạn, tranh làng Sình chủ yếu được sử dụng trong các nghi lễ cúng tế, cầu an, giải hạn của người dân địa phương.

 

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước phơi tranh dân gian làng Sình

Sình là một làng nông nghiệp ở ven sông và gần đế đô. Dân ở đây sống chủ yếu về làm ruộng, một số đi buôn, cũng nhiều người học hành đỗ đạt. Làng Sình có những điều kiện lưu thông khá thuận lợi, lại cận kề bên khu phố - chợ - cảng, và trong thực tế, nơi đây đã trở thành khu thị tứ “vệ tinh” quan trọng trong hệ thống phố cảng thương nghiệp Thanh Hà - Bao Vinh. Bên cạnh những đội ngũ khách thương là một bộ phận không nhỏ những người làm nghề thủ công như đan lát, làm nón, làm giấy... Ngoài ra, làng còn có nghề làm hương, làm hạt bỏng để cúng. Có lẽ do những truyền thống này mà nghề in tranh mộc bản ở Sình, ngay từ khi ra đời đã không thuần túy là dòng tranh phục vụ cho các thú chơi tao nhã, mà chủ yếu là nhu cầu tín ngưỡng, dùng để thờ, để hóa trong các lễ cầu an, giải hạn.

Ngày nay, làng Sình là một làng văn vật của đất cố đô, nơi còn lưu giữ nghề làm tranh cổ truyền và một hội vật nổi tiếng, tổ chức vào ngày mồng Mười tháng Giêng âm lịch hàng năm. Tín ngưỡng và sinh hoạt của dân gian đã đóng một vai trò to lớn, gần gũi và quen thuộc với phong tục người Huế nói riêng và cả dân tộc nói chung. Tranh làng Sình mang một tín ngưỡng dân dã, nhưng thông qua chất liệu, màu sắc, chủ đề, đường nét, bố cục, tranh làng Sình đã tạo nên một nét đặc thù, không chỉ trong khía cạnh thẩm mỹ, mà nội dung tranh còn biểu lộ một thái độ, một quan niệm, một nếp sinh hoạt con người ở đây trước thiên nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa của quê hương mình.

Tranh Sình được làm từ giấy dó, in bằng bản khắc gỗ (mộc bản) rồi tô màu thủ công bằng các chất liệu tự nhiên như bột hồ điệp, lá cây, tro, gạch… Mộc bản thường được làm từ gỗ kiền, gỗ thị hoặc gỗ mít. Nội dung tranh phong phú, gồm các nhóm chính như tranh nhân vật (tượng Bà, ảnh Xiêm, ảnh Phền, ông Điệu, ông Đốc…), tranh đồ vật (áo, tiền, dụng cụ sinh hoạt cho cõi âm) và tranh súc vật (gia súc, voi, cọp, 12 con giáp…). Tất cả đều phản ánh tín ngưỡng cổ sơ của cư dân nông nghiệp, thể hiện khát vọng được che chở trước những bất trắc của cuộc sống.

Công đoạn tô tranh

Bên cạnh giá trị tín ngưỡng, một số dòng tranh thờ làng Sình còn mang giá trị nghệ thuật tiêu biểu, như bộ tranh Bát Âm – thực chất là các bức Tố nữ Huế duyên dáng, phục trang nền nã, gắn với sinh hoạt âm nhạc truyền thống và mỹ cảm cung đình – dân gian của xứ Huế. Mỗi bức vẽ một cô đứng biểu diễn nhạc cụ khác nhau, cả bốn cô đều mặc áo “mã tiên”, gồm áo trắng dài mặc trong, áo cánh màu mặc ngoài, mỗi cô một áo có thể thay đổi khi tô sao cho vui, đội mũ, mặc quần trắng. Áo mã tiên khá điển hình ở Huế, ở những đám cưới lớn có tám em bé mặc áo mã tiên cầm đèn lồng đi thành hai hàng dọc. Các cô như những ca sĩ duyên dáng, phục trang nền nã.

Về mặt kỹ thuật, tranh Sình có nhiều điểm tương đồng với tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống nên chúng ta cũng không loại trừ khả năng cho rằng trong quá trình di cư vào Đàng Trong, những nghệ nhân quê ở Thanh Hóa đã đem theo nghề của tổ tiên để làm kế sinh nhai. Huế, mảnh đất của rất nhiều sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian như lễ thờ cúng tổ tiên, lễ cúng cô hồn, lễ dâng sao giải hạn, lễ tảo mộ, lễ cúng gia tiên theo sóc vọng lễ tiết, lễ trai đàn bạt độ, lễ cúng tiên sư, tục thờ thần cửa ngõ... Chính vì đặc điểm này mà tranh làng Sình có cơ sở để phát triển lâu dài. Nghề tranh hình thành từ khi lỵ sở của Huế còn ở Hóa thành, nghề tranh phát đạt không lâu sau đó. Tranh làng Sình là dòng tranh chính phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng của người dân Huế từ bao đời nay. Nó xuất hiện trong các dịp cúng bái, lễ tết. Mặc dù có nhu cầu sử dụng lớn như vậy, nhưng trải qua những biến động của lịch sử, tranh làng Sình đang dần bị mai một, hiện chỉ còn khoảng 6 - 10 gia đình với hơn 30 nhân công sản xuất tranh chuyên nghiệp. Có thể kể đến đó là các gia đình ông Kỳ Hữu Phước, bà Phan Thị Ký, bà Lê Thị Nhơn ông Trần Viện... các gia đình này còn giữ lại được nguyên vẹn những bản khắc gỗ truyền thống. Tuy nhiên, đặc biệt trong các tháng 10, 11, 12 Âm lịch, nghề tranh cũng thu hút được 15- 17 gia đình với gần 100 nhân công sản xuất theo hướng bán chuyên nghiệp.

Ngày nay, cuộc sống thay đổi, ý thức con người cũng thay đổi, muốn tìm về những giá trị tinh thần đã nhạt phai. Tranh làng Sình đã dần lấy lại được hình ảnh và vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, xã hội của một làng tranh truyền thống. Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đã có sáng tạo, khắc thêm nhiều mộc bản lấy đề tài sinh hoạt làng quê, và nỗ lực bảo tồn tranh Sình suốt 50 năm qua. Xưởng làm tranh của ông Kỳ Hữu Phước thường có các tour trải nghiệm nghề in tranh mộc bản với sự chỉ dẫn của ông Phước. Du khách sẽ được in tranh, tập tô màu lên giấy theo đường nét đã in. Cuối cùng sẽ có bức tranh Sình do tự mình trải nghiệm.

Song song với nghề tranh, hội vật làng Sình vẫn được duy trì như một sinh hoạt văn hóa – thể thao truyền thống, thể hiện ước vọng về sức khỏe, sự no đủ và tinh thần thượng võ của cộng đồng. Với sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương, không gian tổ chức lễ hội ngày càng khang trang, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân và du khách. Việc bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề tranh dân gian làng Sình không chỉ góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa Huế, mà còn là minh chứng sinh động của việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc, gắn bảo tồn với phát triển du lịch bền vững, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội địa phương trong giai đoạn mới.

Lê Đình Hoàng