
Xu thế “Balkan hóa” chuỗi cung ứng
Giống như nhiều chủ doanh nghiệp Mỹ đặt cơ sở sản xuất tại Trung Quốc, Daniel Krassenstein - Giám đốc Chuỗi cung ứng toàn cầu của Procon Pacific sẽ theo dõi sát sao cuộc gặp giữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Donald Trump bên lề cuộc họp G20 ở Osaka cuối tuần này.
Procon Pacific sản xuất 40% sản phẩm bao bì công nghiệp của mình (gồm bao tải siêu lớn hoặc túi số lượng lớn có thể lưu trữ bất cứ thứ gì, từ sữa, bột, đường, hóa chất nguy hiểm, phân bón đến xi măng hỗn hợp) ở Trung Quốc. Vài năm trước, gần như toàn bộ sản phẩm của hãng đều được sản xuất tại Trung Quốc, ban đầu ở Thường Châu, tỉnh Giang Tô. Nhưng khi chi phí tăng, hãng đã chuyển một số cơ sở sản xuất đến tỉnh Sơn Đông ở phía Bắc, nơi có thể thuê mặt bằng và lao động rẻ hơn.
Sau đó, Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu đóng cửa các nhà máy không tuân thủ tiêu chí về ô nhiễm, khí thải, và không thanh toán tín dụng xã hội đúng hạn, trong đó có các cơ sở của Procon ở Sơn Đông. Vì vậy, Procon đã chuyển 50% sản lượng sang Ấn Độ và 10% đến Việt Nam.
“Điều này không liên quan gì đến ông Donald Trump, hay cuộc chiến thương mại, mà hoàn toàn do chúng tôi phải cân nhắc chi phí lao động và môi trường. Nhưng trong trường hợp này, dường như các cơ sở sản xuất ở Sơn Đông - một điểm rất phù hợp để sản xuất những sản phẩm giá rẻ - đã bị ảnh hưởng”, Krassenstein chia sẻ.
“Các sản phẩm của công ty phải chịu thuế nhập khẩu 8,4% khi bán cho các công ty ở Mỹ, bất kể chúng được sản xuất ở đâu. Tuy nhiên, nếu Tổng thống Donald Trump bổ sung 25% thuế quan đối với hàng hóa trị giá 300 tỷ USD được sản xuất tại Trung Quốc, thì mức thuế sẽ bị đẩy lên 33,4%. Và như vậy, chắc chắn, chúng tôi sẽ phải nhanh chóng đưa toàn bộ sản xuất ra khỏi Trung Quốc”, ông Krassenstein nói thêm, mặc dù vẫn hy vọng Mỹ và Trung Quốc sẽ đạt được thỏa thuận để tránh các đòn thuế quan sau Hội nghị Thượng đỉnh G20 ở Nhật Bản cuối tuần này.
Tuy nhiên, với những chủ doanh nghiệp như Krassenstein, mối quan tâm thực sự của họ là những gì xảy đến sau vài tháng tới, khi cả nước Mỹ bước vào mùa bầu cử Tổng thống và nhiều khả năng ông Trump sẽ chơi lá bài Trung Quốc để nhận được nhiều phiếu bầu hơn. “Thẳng thắn mà nói, tôi cho rằng một thỏa thuận tạm thời với mức tăng nhỏ là hoàn toàn có thể đạt được tại cuộc gặp giữa ông Trump và ông Tập lần này, nhưng điều tôi quan tâm nhiều hơn là những gì xảy ra vào mùa hè tới”.
Sự thay đổi chuỗi cung ứng kể trên chỉ là một ví dụ đơn giản về cái được gọi là hiện tượng “ly hôn” (tách rời) kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc. Đây thường là xu hướng trước một cuộc chiến thương mại, nhưng những đòn thuế quan đã trở thành “tên lửa” đẩy quá trình này diễn ra nhanh hơn. Hầu hết nhà phân tích theo dõi Trung Quốc tin rằng, tình trạng chia tách giữa hai nền kinh tế, ở một mức độ nào đó, là xu hướng không thể tránh khỏi, bất kể hai bên có đạt được kết quả như thế nào bên lề Hội nghị G20 ở Nhật Bản.
“Giới kinh doanh ghét sự không chắc chắn, các doanh nghiệp không muốn bị cuốn vào cuộc xung đột chính trị. Họ muốn tìm một môi trường ổn định. Và vì vậy, bất cứ ai có thể rút chân ra khỏi Trung Quốc sẽ làm điều đó” - ông Jeff Moon, cựu Trợ lý Đại diện thương mại Hoa Kỳ về Trung Quốc, nhận định. Trong khi đó, Chen Li, Trợ lý Giáo sư tại Đại học Hong Kong, Trung Quốc, thì cho rằng, xu hướng chia tách giữa hai nền kinh tế sẽ tạo ra hiện tượng Balkan hóa các chuỗi cung ứng.
… đến sự thoái lui của đầu tư
Trong khi xu hướng phân mảng của các chuối cung ứng là vấn đề tương đối đơn giản để giải quyết thì mối quan hệ kinh tế Mỹ - Trung đang xuất hiện những kẽ hở và rào cản cho thấy một cuộc chia tay trên diện rộng có thể đang diễn ra, cả trong những lĩnh vực phức tạp hơn.
Đầu tháng 6, các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Marco Rubio, Bob Menendez, Tom Cotton và Kirsten Gillibrand đã đề xuất một dự luật yêu cầu tăng cường giám sát các công ty Trung Quốc và các công ty nước ngoài khác được niêm yết trên sàn chứng khoán Mỹ và có thể bị hủy niêm yết nếu không tuân thủ những quy định về quản lý của Mỹ trong khoảng thời gian ba năm. Dự luật này nếu được thông qua sẽ bật đèn xanh cho việc trục xuất các công ty Trung Quốc bị đánh giá là không minh bạch ra khỏi thị trường tài chính Mỹ.
Xu thế thoái lui trong đầu tư càng ngày càng trở nên rõ ràng. Năm ngoái, các thương vụ mua lại các công ty Mỹ của Trung Quốc đã giảm 95% so với mức đỉnh điểm năm 2017 sau khi Quốc hội Mỹ trao cho Ủy ban Đầu tư nước ngoài thẩm quyền mở rộng phạm vi đánh giá các thương vụ mua lại của Trung Quốc trên cơ sở xem xét những nguy cơ đối với an ninh quốc gia.
Thêm vào đó là cuộc cạnh tranh công nghệ Mỹ - Trung đang ngày càng trở nên ầm ĩ sau khi Mỹ đưa tập đoàn công nghệ Huawei của Trung Quốc vào danh sách đen, cấm cửa gã khổng lồ công nghệ Trung Quốc tiếp cận những nhà cung cấp quan trọng của Mỹ và không quên tích cực vận động các quốc gia khác cấm thiết bị 5G của Huawei.
Để trả đũa, Bắc Kinh đã triệu tập các công ty công nghệ Mỹ, bao gồm Dell và Microsoft, để cảnh báo họ không được phép hợp tác với danh sách đen các công ty nước ngoài không đáng tin cậy do Trung Quốc tự lập.
Tuần này vừa có tin Apple đang cân nhắc chuyển 15 - 30% sản lượng ra khỏi Trung Quốc. Thông tin trên được Nikkei Asian Review đưa ra ngay sau tuyên bố tuần trước của Giám đốc điều hành Foxconn, công ty lắp ráp iPhone và iPad cho Apple tại Trung Quốc, rằng họ có đủ năng lực để sản xuất tất cả sản phẩm của Apple ở một nước khác không phải Trung Quốc. Tất nhiên, các chuyên gia đều nghi ngờ tuyên bố này. “Có lẽ Apple là công ty đã đầu tư vào các chuỗi cung ứng ở Trung Quốc nhiều hơn bất kỳ công ty thành công nào trong lịch sử Mỹ được ghi nhận. Cứ cho rằng họ có thể vứt bỏ mọi thứ đã đạt được với Foxconn và chuyển sang một nền tảng thay thế, sản xuất được cùng một sản phẩm với cùng chất lượng và giao thức lắp ráp… là điều hoàn toàn có thể, nhưng người ta sẽ gật gù cho đó là một câu chuyện cổ tích có hậu” - Giáo sư Stephen Roach, Đại học Yale và cựu Chủ tịch Morgan Stanley ở châu Á nhận định.
Không thể phủ nhận Trung Quốc chiếm phần quan trọng trong doanh thu của Apple dù con số đó đang giảm đáng kể: 10,22% trong quý II năm nay, giảm từ 13,17% trong quý trước và giảm so với mức cao nhất mọi thời đại là 17,96% trong quý đầu tiên năm 2018. Nhưng Apple sẽ theo chân những gã khổng lồ công nghệ khác ra khỏi Trung Quốc, như việc Samsung sắp sửa đóng cửa nhà máy cuối cùng của họ ở Trung Quốc mặc dù chưa xác nhận chiến lược rút lui. Merle Hinrich, người sáng lập công ty truyền thông kinh doanh Global S Source và là người bảo trợ của Quỹ Hinrich, cho rằng Apple sẽ khôn ngoan trong việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng của mình.
Câu hỏi đặt ra là một tập đoàn lớn như Apple rời khỏi Trung Quốc có tạo ra hiệu ứng domino hay không? Alex Capri, thành viên thỉnh giảng tại Đại học Quốc gia Singapore nhận định: “Apple là một liên kết chính trong chuỗi cung ứng. Có rất nhiều liên kết trong chuỗi đó phụ thuộc vào Apple. Khi một tập đoàn lớn như Apple rời đi, những bên khác cũng sẽ nhấp nhổm”.
Rõ ràng, xu hướng các tập đoàn của Mỹ di chuyển ra khỏi Trung Quốc đang được thảo luận ở khắp nơi trong bối cảnh mối quan hệ kinh tế giữa hai nước suy giảm đột ngột, điều mà các chuyên gia cho là bắt nguồn từ chiến lược phát triển đang thay đổi của Trung Quốc.
5 năm trước, Roach đã viết một cuốn sách có tên là “Bất cân bằng: Sự phụ thuộc giữa Mỹ và Trung Quốc”, nói rằng nền kinh tế Hoa Kỳ và Trung Quốc không nên phụ thuộc vào nhau, vì sự rạn nứt không thể tránh khỏi sẽ thúc đẩy một cuộc ly hôn. Rạn nứt đó, giờ đây ông giải thích, bắt nguồn tự những thay đổi trong chính sách kinh tế của Trung Quốc. Cường quốc châu Á này đã không còn an phận là một công xưởng của thế giới mà đang hướng tới một nền kinh tế dựa trên tiêu dùng nội địa và công nghệ cao. Mỹ nhìn nhận điều đó như một mối đe dọa và họ phản ứng một cách tự nhiên nhất. Điều đó giải thích, dù trong cuộc gặp sắp tới có thể sẽ có cái bắt tay giữa ông Trump và ông Tập, có thể có cam kết không tăng thuế quan hoặc lạc quan hơn có thể là một hiệp định đình chiến, nhưng “cuộc ly hôn” về bản chất sẽ không thể đảo ngược.
daibieunhandan.vn