239
+ aa -

Chính trị - Xã hội

Cập nhật lúc : 20/08/2022 10:32
TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập
Sáng nay (20/8), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị “Phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập”. Hội nghị nhằm tìm ra lời giải cho những thách thức đối với thị trường lao động trong thời gian qua.
Cùng với các hội nghị về phát triển thị trường vốn, hội nghị về thị trường bất động sản, Hội nghị “Phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập” cho thấy Chính phủ ra tuyên bố ổn định và phát triển các loại thị trường – một trong "4 ổn định" trong trọng tâm, chỉ đạo điều hành của Chính phủ hiện nay - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Hội nghị diễn ra dưới hình thức trực tiếp tại Hà Nội, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, kết nối đến đầu cầu 63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Tham dự Hội nghị tại đầu cầu Hà Nội có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, lãnh đạo các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, LĐ-TB&XH, VHTT&DL, GD&ĐT, Công an, Ngân hàng Nhà nước..., Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đại diện một số doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, và đại diện một số tổ chức, chuyên gia quốc tế.

Tại Hội nghị, lãnh đạo Bộ LĐTB&XH sẽ trình bày Báo cáo tình hình thị trường lao động thời gian qua; nhận diện những thuận lợi, cơ hội, khó khăn, thách thức hiện nay để đề xuất các giải pháp hỗ trợ phát triển thị trường lao động nhanh, hiệu quả để làm cơ sở phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.

Hội nghị cũng sẽ lắng nghe những kiến nghị từ cộng đồng DN do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trình bày, đề cập đến bối cảnh chịu tác động kép bởi đại dịch COVID-19 và cách mạng công nghiệp lần thứ tư khiến thị trường lao động Việt nam đang có nhiều thay đổi mạnh mẽ. Trong đó, hai thách thức nổi lên là: thiếu hụt lao động có kỹ năng và các thay đổi về yêu cầu kỹ năng đối với người lao động dưới tác động của việc thay đổi công nghệ, chuyển đổi số và tự động hóa khiến cho yêu cầu về kỹ năng của người lao động cũng thay đổi nhanh hơn, chu kỳ thay đổi cũng ngắn hơn.

Tại Hội nghị, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng kiến nghị những giải pháp để phát triển thị trường lao động, phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. Theo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cần hết sức chú trọng chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Bởi lẽ, con người luôn phải là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển.

Hội nghị cũng là dịp để các địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia trong nước và quốc tế "hiến kế" phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập.

TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 2.

Hội nghị là dịp để các địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia trong nước và quốc tế "hiến kế" phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Theo Bộ LĐTB&XH, thị trường lao động Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc cả về quy mô và chất lượng, từng bước hiện đại, đầy đủ và hội nhập quốc tế. Theo đó, khuôn khổ thể chế, chính sách ngày càng hoàn thiện; quy mô và chất lượng cung lao động tăng lên; cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực thu nhập, tiền lương của người lao động được cải thiện, năng suất lao động và tính cạnh tranh của lực lượng lao động được nâng lên.

Cụ thể, quy mô lực lượng lao động ngày càng tăng, nguồn cung được đảm bảo với trên 51,6 triệu người. Chất lượng lao động ngày càng nâng cao, tỉ lệ qua đào tạo tăng qua từng năm, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 26,2%. Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và dịch vụ. Vấn đề giải quyết việc làm được đẩy mạnh, góp phần duy trì tỉ lệ thất nghiệp chung của cả nước luôn dao động trong khoảng 2,2-2,3%.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng chỉ rõ, thị trường lao động nước ta còn chưa phát triển kịp với tốc độ và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tính thích ứng, chủ động, linh hoạt kém, nhất là trước những "cú sốc" như đại dịch COVID-19 đã bộc lộ những bất cập như: áp lực giải quyết việc làm cho gần 2 triệu lao động rời khỏi thị trường lao động (phần lớn là lao động tự do, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật); tình trạng khan hiếm lao động cục bộ ở một số ngành, lĩnh vực, địa bàn còn tồn tại; chưa có giải pháp để nâng tầm, khai thác và thu hút lao động tại chỗ hiệu quả; tiềm ẩn nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, thiếu hụt lao động cho giai đoạn phục hồi và phát triển; sự thiếu hụt các kỹ năng của người lao động để duy trì việc làm hoặc chuyển đổi 2 nghề, thích ứng với tình hình sau đại dịch; thiếu cơ sở dữ liệu điện tử trong quản lý lao động, nhu cầu kỹ năng tương lai.

                                     Mới nhất                                     Cũ nhất                                 
09:24 ngày 20/08/2022

 TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 1.

Đại diện Ngân hàng Thế giới (WB): Hiện tại, Việt Nam đứng thứ 116/141 nước về kỹ năng của học sinh tốt nghiệp trong Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu

Đại diện Ngân hàng Thế giới (WB): Việt Nam luôn coi trọng giáo dục phổ thông, tuy nhiên hệ thống giáo dục của Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng để có thể tận dụng được hết tiềm năng của thanh thiếu niên tốt nghiệp phổ thông.

Tôi xin được đưa ra một số thách thức và một số giải pháp về vai trò của việc làm, kỹ năng và giáo dục cao học đối với việc đạt được phát triển bền vững của Việt Nam.

Đầu tiên, hãy nhìn vào bối cảnh hiện tại. Việt Nam có lực lượng lao động có kỹ năng chưa được cao. Đây là vấn đề của giáo dục đào tạo nghề bậc trung cấp và cao học. Về kỹ năng của lao động, hiện tại, Việt Nam đứng thứ 116/141 nước về kỹ năng của học sinh tốt nghiệp trong Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu, thấp hơn nhiều so với một số nước, trong đó có Singapore đứng thứ 79.

Năm 2019 đã có cuộc điều tra trong các doanh nghiệp của Việt Nam, cho thấy nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tuyển dụng người lao động có chất lượng. 73% doanh nghiệp có báo cáo rằng họ gặp khó khăn trong  tuyển dụng những lao động cho vị trí quản lý, 61% gặp khó khăn để tuyển dụng người lao động có kỹ năng phù hợp. Con số này cho thấy có khoảng cách lớn giữa cung và cầu lao động Việt Nam như chúng ta đã lắng nghe từ các đại biểu.

Trong bảng điều tra về lao động Việt Nam năm 2020, chỉ rất ít đơn vị của Việt Nam hoàn tất giáo dục đào tạo nghề thuộc giáo dục cao học. Điều này do người Việt chưa được tiếp cận với giáo dục cao học. Tỉ lệ lao động tốt nghiệp đại học và cao học ở Việt Nam khoảng 26,8%, thấp hơn con số 51,3% của các nước thu nhập trung bình.

Về kỹ năng, 17% lao động Việt Nam có bằng đại học và trên đại học, phần còn lại trung bình lao động được đào tạo trong vòng 8 năm. Việt Nam muốn tăng cường chất lượng lao động tới năm 2050 nhưng với đà này thì chỉ 15% lực lượng lao động được tiếp cận giáo dục đại học vào năm 2030, thấp hơn nhiều so với các quốc gia ở châu Á khác.

Việc làm và nhu cầu việc làm đang thay đổi nhanh chóng. Điều tra việc làm Việt Nam 2020 cho thấy việc làm đơn giản ngày càng giảm và việc làm trong thời kỳ mới đòi hỏi phải có nhiều kỹ năng cao và chuyên sâu hơn. Để giải quyết vấn đề này, tôi có 5 gợi ý:

Thứ nhất là cải thiện hệ thống lao động để số lượng lao động tốt nghiệp cao học cao hơn, đáp ứng yêu cầu của người tuyển dụng lao động.

Thứ hai, tăng cường chất lượng lao động để họ có đóng góp nhiều hơn cho cuộc đời mình.

Thứ ba, đào tạo lao động là học sinh về những kỹ năng mới như kỹ năng số, kỹ năng xã hội, kỹ năng học tập chất lượng cao và kỹ năng xanh…

Thứ tư, tương tác với doanh nghiệp để họ tham gia vào quá trình đào tạo nghề, tăng cường mối quan hệ liên kết với các doanh nghiệp trong thiết kế các chương trình đào tạo để đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng lao động. Một số sáng kiến này đã được thực hiện nhưng cần phải có hệ thống. Đó là thử việc và tư vấn với các doanh nghiệp để người lao động có thể thích nghi nhanh với sự thay đổi của thị trường lao động. Cần xác định hạn chế chính mà các doanh nghiệp phải đối mặt để tìm kiếm các giải pháp xử lý vấn đề này cũng như trong các cơ sở đào tạo trong việc đào tạo nghề cho người lao động.

Thứ năm, đầu tư vào hệ thống thông tin việc làm tích hợp giữa người lao động, người tuyển dụng lao động, các cơ sở đào tạo để họ có thể đề nghị người lao động phải đưa ra những quyết định phù hợp đối với sự nghiệp của mình.

Đề nghị Việt Nam tiếp tục tăng cường chất lượng của giáo dục đào tạo để phục vụ cho nhu cầu việc làm cũng như tương lai của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng nên đóng vai trò linh hoạt hơn trong vấn đề này để giúp Việt Nam đạt được tham vọng.

09:15 ngày 20/08/2022

 TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 1.

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Nguyễn Văn Thân đề xuất có giải pháp tạo thuận lợi cho dịch chuyển lao động trong nước và ngoài nước - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Nguyễn Văn Thân đánh giá cao các chính sách và giải pháp của Đảng, Nhà nước, Chính phủ trong thời điểm dịch COVID-19 đã có những chỉ đạo rất kịp thời để doanh nghiệp vượt qua đại dịch, bảo đảm cung cầu lao động vừa qua trong bối cảnh doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Sau đại dịch đã có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập mới.

Ông Nguyễn Văn Thân cho biết, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 98% trong khoảng 800.000 doanh nghiệp, thu hút khoảng 60% lao động.

Tuy nhiên ông Nguyễn Văn Thân cho rằng, hiện nay, nhu cầu lao động của các doanh nghiệp rất lớn, đề nghị một số nội dung như nghiên cứu chế độ tiền lương phù hợp với lao động tay nghề cao, tư duy đột phá để giữ chân họ.

Ông Nguyễn Văn Thân ủng hộ ý kiến của VCCI là xem xét, nghiên cứu giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa nếu chứng minh được việc thực hiện đào tạo, đào tạo lại cho người lao động (thay vì chứng minh chi phí bằng hóa đơn chứng từ phức tạp như hiện nay thì nên nghiên cứu cho doanh nghiệp được giảm thuế tương tự như trường hợp doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, lao động là người khuyết tật…).  Hiện tại, Luật Giáo dục nghề nghiệp chỉ quy định các ưu đãi cho doanh nghiệp có thành lập trung tâm/trường/cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc doanh nghiệp và các cơ sở này phải hoạt động như một đơn vị đào tạo chuyên nghiệp.

Có giải pháp tạo thuận lợi cho dịch chuyển lao động trong nước và ngoài nước, khuyến khích lao động học nghề, đào tạo, xuất khẩu lao động ở nước ngoài về nước làm việc, phát triển nhà ở xã hội cho họ về nước an cư lạc nghiệp.

Nghiên cứu mô hình trả lương linh hoạt, ví dụ có thể người lao động ứng trước một khoản lương khi cần để tránh tình trạng vay nặng lãi, tín dụng đen; nghiên cứu phát triển các đô thị công nghiệp như nhiều nước đã làm để tạo thuận lợi cho người lao động sinh sống, làm việc.

09:08 ngày 20/08/2022

 TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 1.

Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Phạm Tấn Công đề nghị Chính phủ có những quy định hướng dẫn đào tạo nội bộ trong doanh nghiệp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Phạm Tấn Công: Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phấn khởi, ghi nhận và đánh giá cao chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội sau khi được ban hành đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và địa phương triển khai. Cho đến nay đã thu được những kết quả rõ nét trong phục hồi kinh tế đất nước sau đại dịch, giúp cộng đồng doanh nghiệp lấy lại được nhịp độ tăng trưởng mới, đồng thời mang lại sự khởi sắc của thị trường lao động Việt Nam.

Thời điểm này, cách đây 1 năm các doanh nghiệp đang gồng mình thực hiện 3 tại chỗ, cũng nhiều doanh nghiệp đóng cửa, lực lượng lao động rời các nhà máy, xí nghiệp về quê lớn chưa từng có. Đến hôm nay, tình hình đã đổi khác, tốt hơn rất nhiều, cộng đồng doanh nghiệp trân trọng cảm ơn Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cùng các địa phương.

Cùng với việc phục hồi kinh tế, bức tranh quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động cũng có thay đổi lớn. Dưới tác động kép bởi đại dịch COVID-19 và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thị trường lao động Việt Nam đang có nhiều thay đổi mạnh mẽ, trong đó nổi lên hai thách thức lớn. Đó là: (1) Thiếu hụt lao động có kỹ năng, và (2) các thay đổi rất nhanh về yêu cầu kỹ năng đối với người lao động dưới tác động của việc thay đổi công nghệ, đặc biệt là tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ 4, chuyển đổi số. Các thay đổi nói trên khiến cho việc khớp nối cung cầu trên thị trường lao động ngày càng khó hơn, nhất là ở những vị trí, yêu cầu kỹ năng cao.

Báo cáo PCI 2021 do VCCI thực hiện cũng phản ánh, đánh giá về chất lượng lao động tại các địa phương từ góc nhìn của doanh nghiệp FDI tương đồng với nhận định trên. Đó là: Khi doanh nghiệp có kế hoạch tuyển dụng thay thế hoặc mở rộng, nhóm lao động mà các doanh nghiệp có thể dễ dàng tuyển dụng hơn cả là công nhân, lao động phổ thông (62%). Tiếp đến là nhóm kế toán (42%), cán bộ kỹ thuật (25%) và quản lý, giám sát (20%). Nhóm lao động có mức độ khó nhất khi tuyển dụng là giám đốc điều hành (15%).

Thách thức nói trên cũng là nút thắt của doanh nghiệp Việt Nam trong phục hồi và phát triển, cũng như là nguy cơ Việt Nam sẽ để mất cơ hội thu hút dòng đầu tư FDI dịch chuyển sau đại dịch COVID-19 và các biến động của chính trị quốc tế.

Trên thực tế, Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn dân số "vàng" nhưng chất lượng lao động lại chưa phải là "vàng". Tỉ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ chỉ đạt 26,1%; cơ cấu lao động phần lớn có kỹ năng hạn chế, thu nhập thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng và thị trường. Việc thay đổi kỹ năng của lao động phụ thuộc vào công tác đào tạo nhưng sự thay đổi chương trình đào tạo chính quy tại các trường giáo dục nghề nghiệp luôn có độ trễ so với nhu cầu trên trị trường lao động. Vì vậy, các chương trình đào tạo ngắn hạn trực tiếp tại doanh nghiệp được coi là một trong những giải pháp tối ưu để có thể giải quyết vấn đề thiếu hụt về kỹ năng lao động hiện tại.

Trong thời gian vừa qua, doanh nghiệp tại nhiều ngành nghề đã thực hiện các chương trình nội bộ, bao gồm cả các ngành nghề thâm dụng lao động cho đến các ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật cao và những ngành nghề mới thực hiện việc tự đào tạo, trang bị kỹ năng cho người lao động thông qua các chương trình đào tạo nội bộ của riêng mình.

Để khắc phục hạn chế trến, VCCI có một số kiến nghị:

Thứ nhất, trước mắt, chính sách hỗ trợ đào tạo để duy trì việc làm cho người lao động khi gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 cần linh hoạt hơn trong cơ chế phối hợp giữa đơn vị sử dụng lao động với cơ sở giáo dục nghề nghiệp bảo đảm các phương án phù hợp với nhu cầu vị trí việc làm của doanh nghiệp. Kéo dài thời gian thực hiện chính sách và điều chỉnh các điều kiện để có thêm nhiều doanh nghiệp và người lao động được tham gia. Tổng kinh phí dự kiến chi cho chính sách này là 4.500 tỷ đồng được trích từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp. Mặc dù được triển khai từ 1/7/2021, hạn cuối để các doanh nghiệp nộp hồ sơ là 30/6/2022, nhưng qua 1 năm, rất ít doanh nghiệp đăng ký tham gia và mới chỉ 17 tỉnh, thành phố phê duyệt cho 57 đơn vị, hỗ trợ đào tạo để duy trì việc làm cho gần 12.000 lao động. Một con số rất khiêm tốn so với mục tiêu 4.500 tỷ đồng đề ra để thực hiện chính sách.

Thứ hai, đề nghị Chính phủ xem xét có những quy định hướng dẫn về đào tạo nội bộ trong doanh nghiệp (thời gian, nội dung, yêu cầu về giáo viên và cơ sở vật chất), có cơ chế hợp tác giữa nhà trường-cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trong việc xây dựng và thẩm định chương trình đào tạo tại doanh nghiệp cũng như ban hành cơ chế công nhận về mặt văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận cho người lao động được đào tạo tại doanh nghiệp. Điều này vừa tạo điều kiện cho phát triển thị trường lao động linh hoạt vừa khuyến khích người lao động liên tục học tập trau dồi kỹ năng để đạt được những vị trí và cơ hội nghề nghiệp tốt hơn. Đồng thời khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện và đầu tư thỏa đáng vào việc đào tạo kỹ năng cho người lao động một cách căn cơ, toàn diện.

Thứ ba, Quốc hội, Chính phủ xem xét có ưu đãi giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp thực hiện các chương trình đào tạo nội bộ tại doanh nghiệp đáp ứng đúng tiêu chuẩn về đào tạo nội bộ trong doanh nghiệp. Hiện tại, Luật Giáo dục nghề nghiệp chỉ quy định các ưu đãi cho doanh nghiệp có thành lập trung tâm/trường/cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc doanh nghiệp và các cơ sở này phải hoạt động như một đơn vị đào tạo chuyên nghiệp. Điều này hạn chế và bỏ sót một hình thức đào tạo phổ biến của phần lớn các doanh nghiệp hiện nay là chương trình đào tạo nội bộ cho người lao động của doanh nghiệp.

Thứ tư, tăng cường hiệu quả hợp tác doanh nghiệp, nhà trường. Ở đây có kinh nghiệm hay tại các nước tiên tiến như Đức, Australia, Anh. VCCI đề xuất áp dụng đánh giá ở Việt Nam mô hình giáo dục nghề nghiệp do ngành dẫn dắt, trong đó việc xác định các kỹ năng, cập nhật các kỹ năng mới, thiết kế chương trình cho học viên của một ngành nhất định được thực hiện với sự tham gia của chính các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp trong ngành đó thông qua Hội đồng tư vấn kỹ năng nghề. Đây là cơ chế phối hợp đa ngành: Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp. Hội đồng tư vấn kỹ năng nghề được lập theo từng ngành, cung cấp thông tin thị trường lao động của ngành, tư vấn thiết kế việc thực hiện đánh giá chương trình hoạt động nghề nghiệp sát với từng ngành.

Việt Nam đang có mục tiêu và khát vọng trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Chìa khóa vàng để mở cánh cửa đầu tiên đến với mục tiêu này là nhanh chóng xây dựng lực lượng lao động chất lượng vàng, có năng suất cao, thu nhập cao. Để thực hiện điều này, cần có những giải pháp mạnh và đột phá trong đó có việc tạo điều kiện và phát huy vai trò của doanh nghiệp không chỉ là người sử dụng mà là chủ thể trực tiếp tham gia bồi dưỡng đào tạo kỹ năng nghề cho người lao động. Đồng thời quan tâm tạo môi trường phát triển nhanh, bền vững vì một thị trường lao động hiện đại, linh hoạt, bền vững và hội nhập chỉ có thể có được khi doanh nghiệp phát triển phát triển hiện đại, bền vững, hội nhập.

08:54 ngày 20/08/2022 
TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 1.

Đại diện Tập đoàn ManpowerGroup Việt Nam: Lao động Việt Nam gặp khá nhiều hạn chế khi các doanh nghiệp đưa công nghệ mới vào sản xuất, khả năng thích nghi và đáp ứng của lao động còn thấp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Đại diện Tập đoàn ManpowerGroup Việt Nam: Trước hết, tôi xin đưa ra một số số liệu cụ thể về thị trường lao động Việt Nam đã được Manpower khảo sát.

Cụ thể, trong bối cảnh thị trường lao động bị tác động nặng nề của đại dịch COVID-19, mức độ phù hợp làm việc từ xa của lao động Việt Nam chỉ chiếm hơn 86%, điều này dẫn đến việc khả năng đáp ứng của lao động trong điều kiện làm việc mới khá thấp.

Tỉ lệ lao động có kỹ năng tay nghề chỉ chiếm 11%, con số này cho thấy kỹ năng chuyên môn của người lao động còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của DN, nhất là trong bối cảnh hội nhập, đòi hỏi về kỹ năng tay nghề của lao động ngày càng cao.

Tỉ lệ sử dụng tiếng Anh chỉ chiếm 5%, dẫn đến sức cạnh tranh cảu lực lượng lao động Việt Nam còn hạn chế. Mức lương trung bình tháng của lao động Việt Nam khoảng 300 USD  (khoảng 7 triệu đồng), thấp hơn khá nhiều so với lao động trong khu vực (1.992 USD) và thế giới (2.114 USD).

Từ những số liệu trên có thể thấy, lao động Việt Nam gặp khá nhiều hạn chế khi các doanh nghiệp đưa công nghệ mới vào sản xuất, khả năng thích nghi và đáp ứng của lao động còn thấp.

Cũng theo khảo sát của Manpower, có 57% DN đang gặp khó khăn trong vấn đề tuyển dụng. Chúng tôi có một số góp ý để DN thu hút lao động, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh.

Thứ nhất, các cơ sở giáo dục đào tạo cần cải tiến một số chương trình, cần có sự kết nối gần giữa DN với các cơ sở đạo tạo để tạo đầu ra cho sinh viên, kết nối sinh viên với DN ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Thứ hai, DN cần có kế hoạch, chương trình cải thiện tính linh hoạt khi làm việc từ xa của lao động. Chúng tôi thấy thời gian qua lực lượng lao động chưa quen với việc làm việc từ xa và chưa đủ kỹ năng để đáp ứng được nhu cầu của DN.

Thứ ba, nếu trước kia lương là yếu tố quan trọng hàng đầu để thu hút lao động thì hiện tại cần nhiều yếu tố để "giữ chân" lao động như chế độ đãi ngộ, môi trường làm việc, cơ hội phát triển kỹ năng và nhiều chính sách linh hoạt khác. DN hiểu chính lao động của mình thì sẽ đáp ứng được nhu cầu của họ.

08:48 ngày 20/08/2022
TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 1.

Tổng Giám đốc Tập đoàn Pouyen Việt Nam Tsai Wen Tsung mong muốn thời gian tới, Chính phủ tạo điều kiện tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp và các trường đào tạo nghề, bồi dưỡng nguồn lao động chất lượng cao - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tổng Giám đốc Tập đoàn Pouyen Việt Nam Tsai Wen Tsung: Tập đoàn Pouyen đến Việt Nam đầu tư từ năm 1994, và đến nay chúng tôi đã có thâm niên 28 năm gắn bó với Việt Nam.

Đại dịch COVID-19 đã gây ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội toàn cầu. Tập đoàn Pouyen là Tập đoàn sản xuất gia công giày thể thao xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động, chúng tôi cũng đã phải trải qua một khoảng thời gian đầy thách thức, khó khăn. Tháng 7/2021, 8 nhà máy của chúng tôi tại 5 tỉnh, thành phố đã phải ngừng sản xuất 3,5-4 tháng. Trước khi dừng sản xuất, tổng số lao động tại Việt Nam của chúng tôi khoảng 130.000 người, sau khi sản xuất trở lại, số lao động đã giảm 5% so với trước, còn khoảng hơn 123.000 người. Chúng tôi cùng với người lao động đã có khoảng thời gian vô cùng khó khăn,vất vả do ảnh hưởng của đại dịch.

May mắn thay, trong khoảng thời gian này, chúng tôi đã luôn nhận được sự chỉ đạo và hỗ trợ, chỉ đạo của chính quyền từ Trung ương đến địa phương, bằng rất nhiều biện pháp đề giúp doanh nghiệp của chúng tôi có thể duy trì sản xuất.

Thứ hai là việc ưu tiên tiêm vaccine phòng, chống dịch COVID-19 cho người lao động để doanh nghiệp có thể đạt được miễn dịch cộng đồng và nhanh chóng trở lại quỹ đạo hoạt động sản xuất bình thường.

Thứ ba, đối với người lao động quay lại làm việc sau thời gian ngừng việc, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ như hỗ trợ tiền thuê nhà để giúp đỡ người lao động sớm trở lại thị trường lao động và ổn định việc làm. Hiện đã có khoảng 36.000 người lao động của Tập đoàn Pouchen tại các tỉnh, thành phố nhận được tiền trợ cấp thuê nhà từ gói hỗ trợ này.

Sau khi khôi phục hoạt động sản xuất, việc bị thâm hụt 5% số lao động đã tác động rất lớn đối với ngành nghề sử dụng nhiều lao động như chúng tôi. Thêm vào đó, thời đại công nghệ, lao động trẻ có nhiều cơ hội nghề nghiệp, họ có thể tiếp cận gần hơn với các ngành công nghiệp dịch vụ khác nhau, do vậy ngành sản xuất gia công chúng tôi cũng cần có những bước đột phá thông qua chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ.

Hai vấn đề chính cũng là vấn đề trọng tâm của Tập đoàn trong thời gian tới của chúng tôi, đó là : 1. Tự động hóa sản xuất 2. Số hóa thông tin (dữ liệu). Do đó chúng tôi có nhu cầu tuyển dụng số lượng lớn người lao động bản địa có kỹ năng, tay nghề cao trong các lĩnh vực như kỹ thuật khuôn mẫu, tự động hoá, công nghệ thông tin... để cùng hỗ trợ quá trình sản xuất và chuyển đổi số của doanh nghiệp.

Việc nâng cấp và chuyển đổi số của ngành sản xuất chúng tôi phụ thuộc nhiều vào nguồn lao động chất lượng cao. Trong bối cảnh khan hiếm lao động của ngành công nghiệp da giày như hiện nay, chúng tôi đề xuất Chính phủ và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hỗ trợ như sau:

Thứ nhất là về ngắn hạn, chúng tôi mong Chính phủ tạo điều kiện tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp và các trường đào tạo nghề, bồi dưỡng nguồn lao động chất lượng cao. Vấn đề này chúng tôi thấy còn hạn chế ở Việt Nam. Việc đào tạo nhân lực chất lượng cao giúp chúng tôi có thể tăng cơ hội việc làm cho người lao động trong nước.

Về dài hạn, tôi cho rằng giáo dục là hậu thuẫn mạnh mẽ nhất cho sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, việc xây dựng các trường đào tạo nghề, kỹ năng chuyên môn và khoa học kỹ thuật là rất quan trọng để tạo nền tảng kỹ thuật cơ bản vững chắc hơn cho ngành sản xuất.

Chúng tôi hy vọng rằng Chính phủ sẽ đầu tư thêm nguồn lực vào các tỉnh phía nam để có thể tạo ra nguồn lao động có kỹ năng, tay nghề cao để hỗ trợ cho các doanh nghiệp ở các tỉnh phía nam.

08:42 ngày 20/08/2022 
TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 1.

Tổng Giám đốc Trường Hải THACO Phạm Văn Tài đề xuất các giải phát phát triển thị trường lao động - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tổng Giám đốc Trường Hải THACO Phạm Văn Tài:  Tập đoàn Trường Hải THACO được thành lập năm 1997, khởi đầu là doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ô tô, đến nay THACO đã phát triển thành tập đoàn công nghiệp đa ngành, bao gồm các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế đất nước như: Ô tô, nông nghiệp, cơ khí, công nghiệp hỗ trợ, thương mại, dịch vụ, đầu tư xây dựng… và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; thực hiện sứ mệnh mang lại giá trị cho khách hàng, đối tác, xã hội, đóng góp cho phát triển kinh tế đất nước.

THACO hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với chiến lược sản xuất kinh doanh và chiến lược kỹ thuật số, hướng tới phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới.

Tổng số nhân sự THACO hiện nay là  trên 60.000 người, bao gồm trong nước 30.000 và nước ngoài 30.000. Trong đó, trình độ đại học, trên đại học 32%; cao đẳng, kỹ thuật 18%; công nhân kỹ thuật 50%.

Trong giai đoạn 2022-2025, THACO có nhu cầu nhân sự tăng 15%/năm, tức là khoảng 9.000 - 10.000 việc làm/năm.

Để đảm bảo số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nhằm thực hiện chiến lược đa ngành, phát triển bền vững, trong giai đoạn qua THACO đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó tập trung vào công tác tuyển dụng, đào tạo với quan điểm: Tuyển dụng tại địa phương nơi THACO đầu tư sản xuất kinh doanh để góp phần giải quyết lao động, an sinh xã hội; chủ động trong công tác đào tạo, huấn luyện, thường xuyên phát triển nhân sự, kiện toàn và nâng cấp quản trị nhân sự đáp ứng chiến lược sản xuất, kinh doanh từng giai đoạn.

Cụ thể, từ năm 2010, THACO đã thành lập trường Cao đẳng nghề để chủ động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; đào tạo từ trung cấp đến cao đẳng các ngành nghề: Công nghệ ô tô, điện cơ khí, điện công nghiệp, bảo trì thiết bị cơ điện, công nghệ thực phẩm… với quy mô đào tạo 2.000 sinh viên/năm.

Đến nay, THACO đã đào tạo trên 2.500 trình độ cao đẳng, 2.000 nhân sự sơ cấp, trung cấp, 200 kỹ sư thực hành. Học viên trường Cao đẳng THACO được miễn học phí, được thực tập trên dây chuyền sản xuất tại các nhà máy, vừa học vừa làm có lương, được bố trí việc làm sau khi tốt nghiệp. Thời gian tới sẽ thành lập thêm các trung tâm đào tạo, thành lập trường đại học THACO để nâng cấp đào tạo nguồn nhân lực thế hệ mới.

Thứ hai là phối hợp Sở GD&ĐT trên địa bàn để định hướng nghề nghiệp cho học sinh cuối cấp thi vào các trường đại học, cao đẳng phù hợp với lĩnh vực sản xuất kinh doanh đa ngành của THACO, góp phần có việc làm sau khi tốt nghiệp.

Thứ ba là hợp tác liên kết trường đại học, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đào tạo trong các hoạt động đào tạo như kiến tập, thực tập, góp ý nội dung chương trình đào tạo chuẩn đầu ra, phối hợp tuyển dụng và đào tạo lại.

Thứ tư là tuyển dụng chuyên gia từ các nước tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc để đào tạo công nghệ, kỹ thuật và công nghiệp điện tử.

Thứ năm là hoàn thiện chính sách, chế độ, xây dựng và phát triển môi trường làm việc văn hoá, thu hút nhân sự phù hợp chiến lược phát triển và quản trị đặc của THACO. Phát triển nhân sự là trách nhiệm và mục tiêu doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn mới với tầm nhìn là công nghiệp đa ngành, phát triển bền vững trong khu vực và thế giới.

Tại hội nghị, THACO đề xuất các giải phát phát triển thị trường lao động, đó là: Ban hành hệ thống chính sách đồng bộ trong phát triển nguồn nhân lực theo quy hoạch phát triển kinh tế vùng; chú trọng tổ chức hệ thống giáo dục và đào tạo từ trường phổ thông đến đại học và các trường đào tạo nghề theo hướng tiếp cận ngành giáo dục uy tín của khu vực và thế giới; tập trung phát triển nhân lực có trình độ cao để tập trung các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả, tránh lãng phí trong nguồn nhân lực. Đặc biệt cần hạn chế tình trạng đào tạo ra không có việc làm, tổ chức đào tạo lại, xây dựng cơ chế hợp tác, phát triển nguồn nhân lực của Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp; có dự báo xu hướng nhu cầu lao động chính xác trong giai đoạn mới.

Thứ ba, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, khoa học công nghệ, trung tâm đào tạo nhân tài, từng bước hiện đại hoá theo tiêu chuẩn quốc tế; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp nghiên cứu, đào tạo theo xu thế chuyển đổi số hiện nay.

Thứ tư, ban hành cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp để có thể thu hút ngày càng nhiều chuyên gia nước ngoài, chuyên gia cao cấp đến làm việc, nghiên cứu khoa học, đào tạo, chuyển giao công nghệ và tham gia phục vụ sản xuất nhằm tăng cường khả năng hội nhập quốc tế cho nhân lực Việt Nam.

08:36 ngày 20/08/2022
TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 1.

Tổng Giám đốc Vingroup Nguyễn Việt Quang mong muốn Chính phủ, chính quyền các địa phương, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo hỗ trợ trong tuyển dụng và đào tạo nhân sự - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tổng Giám đốc Vingroup Nguyễn Việt Quang: Về tình hình thực tế lao động, với tiêu chí bền vững, hiện đại, hội nhập, Vingroup đang tiên phong thu hút sử dụng lực lượng lao động với trí tuệ Việt và kinh nghiệm, tri thức phương Tây.

Hiện nay, Vingroup có 3 mảng hoạt động chính: Công nghệ, công nghiệp; thương mại, dịch vụ; thiện nguyện xã hội. Với tổng số nhân sự 45.000 người, đang dự kiến tăng lên 150.000 người trong 2 năm tới. Nhân sự của Tập đoàn Vingroup bao trùm tất cả cấp độ từ người lao động phổ thông sau khi được đào tạo cơ bản, có khả năng chăm sóc các chất lượng dịch vụ ở chuỗi khách sạn 5 sao, tham gia xây dựng các công trình lớn nhất của Việt Nam ở Vinhome tới những lao động cấp cao người Việt có khả năng quản trị dẫn dắt hàng trăm nhân sự cao cấp trong lĩnh vực nghiên cứu sản xuất công nghệ, thương mại dịch vụ...

Hiện nay Vinfast và Vingroup đang có gần 1.000 chuyên gia đến từ gần 20 quốc gia phát triển trên thế giới. Nghiệp vụ của các chuyên gia ở Việt Nam không chỉ giúp chúng tôi triển khai các dự án nghiên cứu sản xuất trong mảng công nghệ, công nghiệp mà quan trọng hơn là tham gia vào quá trình đào tạo huấn luyện xây dựng đội ngũ nhân sự có chất lượng quốc tế.

Trong vòng 3 năm tới, Vingroup đang có kế hoạch mở ra Trung tâm kết nối trí tuệ toàn cầu tại Khánh Hòa nhằm quy tụ những bộ óc lớn nhất thế giới với các chuyên gia đang sở hữu bằng sáng chế, các nghiên cứu chuyên sâu, Vingroup sẽ hỗ trợ họ phát triển ứng dụng để Việt Nam có một Thung lũng Silicon - nơi quy tụ tinh hoa của thế giới.

Về nhu cầu tuyển dụng trong thời gian tới, với tốc độ phát triển của Vingroup, lực lượng nhân sự tăng lên mỗi ngày về chất cũng như về lượng, số nhân sự thiếu cần bổ sung thêm ngày càng gia tăng. Trong 2 năm tới, Vingroup cần 100.000 nhân sự trong đó có khoảng 20% là nhân sự cao cấp đã qua đào tạo tối thiểu là trình độ đại học và khoảng 10% trong đó sẽ được đưa ra các nhà máy, cơ sở sản xuất kinh doanh tại Vinfast ở Mỹ, ở châu Âu. Chúng tôi cũng khẳng định rằng, Vingroup khi đi ra thế giới sẽ mang theo khát vọng của Việt Nam và chỉ có thể dựa vào con người. Ở trong nước, chúng ta khẳng định thương hiệu, chất lượng, uy tín, tốc độ nhưng ra nước ngoài chúng ta được biết đến như một đất nước kiên cường, bền bỉ; chúng ta sử dụng chất xám Việt trên nền tảng kiến thức và kinh nghiệm của các chuyên gia quốc tế trong việc chinh phục thế giới bằng sản phẩm, thương hiệu chất lượng và chất xám của Việt Nam.

Về kế hoạch 5 năm tới, Vingroup dự kiến xây đựng 500.000 căn nhà xã hội và một loạt dự án xây dựng được triển khai tại Quảng Ninh, Khánh Hòa, TPHCM cùng với việc mở mới nhà máy pin tại Vũng Áng (Hà Tĩnh), mở rộng sản xuất nhà máy ô tô điện ở Hải Phòng chúng tôi cần tuyển gấp khoảng từ 80.000-100.000 công nhân cho các dự án này.

Chúng tôi đề nghị Chính phủ, chính quyền các địa phương, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng phối hợp với Vingroup hỗ trợ trong tuyển dụng và đào tạo nhân sự. Một số đơn vị thành viên của Vingroup đã có các chương trình hợp tác song phương với các trường đại học lớn như VinUni, Đại học Ngoại thương, Đại học Ngoại giao, Đại học Bách khoa… để đưa trí tuệ, kinh nghiệm của chúng tôi trở thành chương trình đào tạo phổ biến khoa nhằm nâng cao chất lượng đại học.

Với chính quyền địa phương, Vinfast và công ty xây dựng Vinhome đang có nhu cầu tuyển dụng hàng chục nghìn lao động để đào tạo và phát triển họ thành những công nhân lành nghề. Chúng tôi cần các địa phương phối hợp cung cấp nguồn nhân lực số lượng lớn, đã qua đào tạo cơ bản, có định hướng về tinh thần làm việc thái độ làm việc, đặc biệt coi trọng tinh thần kỷ luật. Vingroup sẽ có chế độ đãi ngộ tốt nhất để họ yên tâm công tác.

Vingroup bày tỏ ước vọng tiên phong mang sản phẩm, công nghệ ra thế giới. Đó là con đường cần thiết để chúng ta định vị chất lượng, chất xám Việt Nam. Chúng tôi tin tưởng rằng Chính phủ sẽ có những chương trình đồng hành cùng các doanh nghiệp để thực hiện khát vọng này. Vingroup sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ các doanh nghiệp khác trên hành trình này.

Để xây dựng lực lượng lao động hiện đại, bền vững, hội nhập trong ngắn hạn, cách tiếp cận của chúng tôi là học nhanh nhất từ những người giỏi nhất và đưa việc học vào sản phẩm dịch vụ thực tế để tiếp tục cải tiến. Về ngắn hạn, chúng tôi tiếp tục đầu tư cho chất lượng nhân sự hay nói đúng hơn là chất lượng dân số cả về sức khỏe, trí tuệ. Từ câu chuyện giáo dục ở Vinschool, VinUni, Vinfuture,Vinglobal… tới những câu chuyện chia sẻ, lan tỏa, nhân rộng kinh nghiệm xương máu của Vingroup cho thế hệ tương lai và các doanh nghiệp bạn muốn học hỏi.

Vingroup hết sức ủng hộ các chương trình của Chính phủ, đặc biệt là việc phối hợp với các địa phương, trong đó có bài toán cụ thể cho từng địa phương nếu địa phương nào có nhu cầu. Bởi hoạt động sản xuất kinh doanh của Vingroup trải dải khắp cả nước và vươn ra thế giới. Vingroup sẽ cử những nhân sự phụ trách phối hợp chặt chẽ với các địa phương và các trường, các doanh nghiệp bạn trong việc đào tạo nhân sự.

08:29 ngày 20/08/2022

 TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 1.

Tổng Giám đốc Tập đoàn Sun Group Đặng Minh Trường: Doanh nghiệp phải chuyển đổi đáp ứng xu thế mới của nhân lực trong thời gian tới - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tổng Giám đốc Tập đoàn Sun Group Đặng Minh Trường: Trong năm 2022 các chính sách mở cửa cũng như các chính sách đối phó linh hoạt với dịch COVID-19, các gói kích cầu kinh tế đã mang lại sự hồi phục, tăng trưởng trong lĩnh vực du lịch. Tuy nhiên, với doanh nghiệp du lịch cũng như doanh nghiệp trong lĩnh vực khác, chúng tôi cũng có khó khăn, cụ thể:

Thứ nhất là nguồn cung lao động chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi kinh tế, đặc biệt là các lao động có trình độ chuyên môn cao. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, hằng năm, với định hướng phát triển du lịch thành kinh tế mũi nhọn, chúng ta cần đến 40.000 lao động có trình độ thì các trường đào tạo nghề, trường cao đẳng hiện nay cũng chỉ đáp ứng được khoảng 15.000, như vậy thiếu hụt rất lớn.

Thứ hai là chi phí lao động tăng nhanh nhưng tay nghề còn hạn chế, khả năng đáp ứng chưa cao. Theo thống kê có đến 90% doanh nghiệp gặp phải tình trạng ứng viên không phù hợp, thử việc xong cũng phải xin nghỉ.

Vấn đề thứ ba là doanh nghiệp phải chuyển đổi đáp ứng xu thế mới của nhân lực trong thời gian tới. Họ yêu cầu hình thức làm việc linh hoạt hơn về thời gian cũng như địa điểm. Thứ hai là họ muốn chuyển dịch từ cố định sang tự do. Thứ ba là tỉ lệ nhân viên nghỉ việc có xu hướng tăng lên rất đáng kể trong ngành du lịch.

Với kinh nghiệm của Sun Group, chúng tôi tập trung vào 3 trụ cột chính để đẩy nhanh quá trình phục hồi tăng trưởng và quan tâm sức khỏe nguồn lao động của mình. Thứ nhất là chú trọng môi trường làm việc chuyên nghiệp, nhân văn với các chế độ đãi ngộ đa dạng. Thứ hai, ưu tiên chuyển đổi số trong công tác quản trị, vận hành và quan trọng nhất là kiên trì phát triển văn hóa doanh nghiệp làm nền tảng cho phát triển của doanh nghiệp.

Với các chính sách để đóng góp với hội nghị, tôi xin có 3 ý kiến như sau:

Thứ nhất phải nâng cao vai trò, nhận thức của giáo dục nghề nghiệp, ví dụ như ở Singapore, những năm 60 có đến 95% hướng nghiệp là đi học đại học, nhưng đến thời điểm này tôi được biết là có đến 65% được phân luồng để học đào tạo nghề hoặc giáo dục hướng nghiệp. Cần có sự hợp tác đa phương giữa đào tạo nghề giữa nhà trường và doanh nghiệp, bao gồm hệ thống các trường cao đẳng, đại học chính quy với các hiệp hội nghề nghiệp, trung tâm giới thiệu việc làm và doanh nghiệp. Có chính sách ưu đãi về thuế trong tổng thể chiến lược để có gắn kết giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và có cơ chế hỗ trợ ngân sách giải ngân để Nhà nước đồng hành với doanh nghiệp trong hoạt động dạy nghề và tái đào tạo kỹ năng của người lao động.

Vấn đề thứ hai, như báo cáo của Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã nói rất rõ là sự mất cân đối trong cung-cầu cho các địa bàn do thiếu đồng bộ trong cơ sở hạ tầng cũng như cơ sở xã hội. Ví dụ như Sun Group khi đầu tư, đưa vào vận hành các tổ hợp, công trình ở vùng sâu, vùng xa thì gặp rất nhiều khó khăn trong thu hút nhân sự vì hạ tầng phục vụ sinh hoạt cơ bản còn thiếu cũng như phải cạnh tranh với nguồn lao động phi chính thức tăng rất cao. Chúng tôi cũng muốn có chính sách cụ thể để hỗ trợ cho việc hạ tầng, đào tạo đi trước một bước. Chúng tôi muốn có sự an cư lạc nghiệp với người lao động bằng cách có chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở cho người lao động, hoặc chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với đối tượng cần được hỗ trợ nhà ở. Ngoài ra, có thể mở rộng đối tượng được mua nhà ở xã hội cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động tại các địa phương xa, vùng khó khăn, thu hút được người lao động đến. Tăng trần hạch toán chi phí phúc lợi vào chi phí doanh nghiệp. Hiện nay doanh nghiệp chỉ được hạch toán tối đa tổng chính sách phúc lợi tương đương 4 tháng tiền lương, chưa đủ để có phúc lợi hấp dẫn  thu hút người lao động vào địa bàn, vùng miền khó khăn, chưa có điều kiện sinh hoạt tốt.

Thứ ba là cơ chế ưu đãi khuyến khích các khoản đầu tư về công nghệ phục vụ cho chuyển đổi số để đáp ứng với sự phát triển bền vững.

08:08 ngày 20/08/2022 
TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 1.

Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Đào Ngọc Dung: Sau hơn 35 năm đổi mới, thị trường lao động Việt Nam đã có những bước tiến dài đáng kể trên con đường phát triển, đổi mới và hội nhập - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Báo cáo về tình hình thị trường lao động, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Đào Ngọc Dung cho biết: Cùng với thị trường hàng hoá-dịch vụ, tài chính, tiền tệ, khoa học-công nghệ và thị trường bất động sản, thị trường lao động được xác định là một thị trường trọng yếu của nền kinh tế và chắc chắn cần được đổi mới và đẩy mạnh phát triển trong giai đoạn hiện nay.

Thị trường lao động Việt Nam có thể xem được chính thức hình thành và phát triển từ năm 1986 đến nay đã đạt được những thành tựu quan trọng. Hệ thống thể chế, luật pháp, chính sách về thị trường lao động từng bước được hoàn thiện; quy mô và chất lượng cung-cầu lao động được gia tăng; chất lượng việc làm của chúng ta ngày càng được được cải thiện; đã từng bước chính thức hóa một phần khu vực phi chính thức; cơ cấu lao động có bước chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỉ trọng lao động khu vực nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng việc làm dễ bị tổn thương, tăng tỉ lệ việc làm được bảo vệ; tiền lương và thu nhập của người lao động được cải thiện rõ rệt; năng suất lao động và tính cạnh tranh của lực lượng lao động được nâng lên.

Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 đã để lại những tác động nặng nề đến thị trường lao động Việt Nam và qua đó cũng làm bộc lộ những điểm mạnh, điểm yếu, những nhân tố cần quan tâm hoàn thiện trong tiến trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững, hiệu quả trước mắt cũng như lâu dài.

Bước tiến dài phát triển, đổi mới và hội nhập của thị trường lao động

Sau hơn 35 năm đổi mới, thị trường lao động Việt Nam đã có những bước tiến dài đáng kể trên con đường phát triển, đổi mới và hội nhập, cụ thể:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật được hoàn thiện tương đối đồng bộ và toàn diện. Đặc biệt, Bộ luật Lao động năm 2019 và các luật liên quan và các văn bản hướng dẫn triển khai được sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với thực tiễn, tạo hàng lang pháp lý để phát triển thị trường lao động; chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng cầu nhân lực của nền kinh tế và đặc biệt là phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ hai, nguồn cung lao động cho thị trường lao động không ngừng gia tăng về số lượng và cải thiện về chất lượng. Lực lượng lao động tăng từ 27,87 triệu người (năm 1986), đến nay là 51,4 triệu người (quý II năm 2022); tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng 49% (năm 2014), nay là 67% (6 tháng đầu năm 2022).

Thứ ba, cầu lao động tăng về số lượng và cải thiện về chất lượng theo hướng hiện đại và bền vững. Trong giai đoạn 2011-2019, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho từ 1,5-1,6 triệu lượt người, tỉ lệ thất nghiệp thường xuyên duy trì ở mức dưới 3%. Các năm 2020-2021, tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 3,22% (tăng 0,54%), thị trường lao động đã tiếp tục phục hồi nhanh chóng trong 8 tháng đầu năm 2022.

Thứ tư, nhiều chính sách tạo việc làm, hỗ trợ phát triển thị trường lao động đã được triển khai nhất quán, liên tục, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ phục hồi thị trường lao động sau đại dịch COVID-19.  Chính phủ đã tập trung tháo gỡ những "nút thắt" về thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư để tạo việc làm; Xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động, phân tích dự báo thị trường lao động; Triển khai các hoạt động hỗ trợ kết nối cung-cầu lao động.

Trong 2 năm qua, thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP và số 116/NQ-CP, từ năm 2021 đến nay, Trung ương và các địa phương đã dành tổng kinh phí hơn 82 nghìn tỷ đồng thực hiện các chính sách hỗ trợ gần 728.500 lượt người sử dụng lao động và trên 49,7 triệu lượt người lao động và các đối tượng khác. Hiện nay đang triển khai Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động với tổng kinh phí 6.600 tỷ đồng.

Thứ năm, hệ thống an sinh xã hội được xây dựng tương đối hoàn thiện và vận hành hiệu quả với vai trò giá đỡ cho thị trường lao động. Tính đến tháng 7 năm 2022, số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt khoảng 17,15 triệu người, chiếm 34,65% lực lượng lao động trong độ tuổi; số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp khoảng 13,94 triệu người, chiếm 28,17% lực lượng lao động trong độ tuổi. 

Nhìn chung, các chính sách đã được ban hành kịp thời, đồng bộ tạo hành lang pháp lý để tổ chức, vận hành và phát triển thị trường lao động góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế-xã hội.

Còn bộc lộ nhiều hạn chế

Thứ nhất, trên bình diện cả nước, cung lao động còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng cho cầu lao động của một thị trường lao động hiện đại, linh hoạt, bền vững và hội nhập. Điều này thể hiện ở số lượng lao động có trình độ, kỹ năng nghề cao còn nhỏ; chất lượng nhân lực có kỹ năng nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường lao động; năng lực cạnh tranh quốc gia còn thấp, chưa tận dụng được hết cơ hội của thời kỳ dân số vàng để thu hút nguồn lực đầu tư FDI. Hạn chế về trình độ, kỹ năng nghề khiến lao động khó có thể có được việc làm bền vững và chuyển dịch linh hoạt trong một thị trường lao động đang biến chuyển không ngừng.

Thứ hai, về cầu lao động của nền kinh tế cũng chưa đủ hiện đại, chưa có đủ việc làm bền vững để đáp ứng nhu cầu việc làm phù hợp với nguyện vọng của người lao động. Tổng cầu của nền kinh tế hiện tại thể hiện thông qua số người đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân. Cầu lao động còn chưa hiện đại thể hiện qua các số liệu sau: Tổng số lao động đang làm việc hiện nay là 50,54 triệu người, bao gồm 13,9 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 27,5%; khu vực công nghiệp và xây dựng 16,8 triệu người, chiếm 33,24%; khu vực dịch vụ 19,8 triệu người, chiếm 39,18%. Lao động dịch chuyển khỏi ngành nông nghiệp, đa số chuyển sang làm việc trong các ngành công nghiệp, lắp ráp; đi lao động có hợp đồng ở ngoài nước, làm các công việc giản đơn, giá trị gia tăng thấp hay các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng thấp.

Thứ ba, nhìn tổng thể, ở thời điểm hiện tại thị trường lao động Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động, có trình độ, kỹ năng thấp và có sự phát triển không đồng đều. Chúng ta thấy đã và đang tồn tại tình trạng mất cân đối cung-cầu lao động cục bộ giữa các vùng miền, khu vực, ngành nghề kinh tế; cơ chế kết nối cung-cầu và tự cân bằng của thị trường còn yếu, mà lý do chính là hệ thống thông tin trên thị trường lao động chưa được phát triển đầy đủ.

Thứ tư, phương thức quản trị thị trường lao động còn nhiều yếu kém, rời rạc, thiếu tính kết nối. Năng lực cán bộ là khâu yếu nhất của quản trị thị trường lao động, thiếu các chuyên gia và đội ngũ cán bộ có đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để dự báo, phân tích xu thế và đề xuất giải pháp quản lý thị trường lao động có hiệu quả.

Thứ năm, hệ thống an sinh xã hội phát triển chưa bền vững, lưới an sinh xã hội chưa đủ sức đảm đương phòng ngừa, khắc phục và chống chịu rủi ro bền vững cho người lao động.

Hiện đại hóa nguồn cung lao động

Là thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế và các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Việt Nam phải tuân thủ các "luật chơi" chung, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động. Thế giới việc làm và thị trường lao động quốc tế đã và đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động cộng hưởng của đại dịch COVID-19 và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đặt ra những vấn đề mới; nhiều việc làm, kỹ năng cũ sẽ mất đi hoặc giảm mạnh, xuất hiện nhiều việc làm mới, kỹ năng mới; trí tuệ nhân tạo, robot, máy móc sẽ đóng vai trò ngày một lớn trong sản xuất và thay thế nhiều vị trí việc làm hiện nay. Là nước có tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ thấp (26,2%), đây là một thách thức không nhỏ của nước ta hiện nay.

Việt Nam hiện là nước tiếp nhận nguồn vốn FDI lớn thứ 3 trong khu vực và là một trong số ít nước ASEAN vẫn duy trì được tăng trưởng dòng vốn FDI ổn định qua nhiều năm. Nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đã bày tỏ lo ngại trước việc thiếu cục bộ lực lượng lao động có kỹ năng nghề để phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh, nhất là trong các ngành công nghiệp. Các doanh nghiệp FDI luôn luôn cần nguồn nhân lực chất lượng cao để ứng dụng công nghệ mới và năng suất lao động cao. Nguồn lực chất lượng cao nếu không được chú trọng cải thiện trong thời gian tới, Việt Nam sẽ mất dần sức hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài.

Thực hiện mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 về phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập đòi hỏi phải xây dựng, tạo lập được nguồn cung lao động hiện đại với chất lượng nhân lực cao; nguồn cầu lao động hiện đại với chất lượng việc làm tốt hơn, bền vững hơn; phương thức quản trị thị trường lao động hiện đại phù hợp với một thị trường lao động hiện đại và hành lang pháp lý thuận lợi, tạo môi trường cho việc dịch chuyển lao động dễ dàng, linh hoạt, nhất là chuyển dịch từ việc làm dễ bị tổn thương sang việc làm bền vững và được bảo vệ, từ việc làm có chất lượng thấp, thu nhập thấp sang việc làm có chất lượng cao. Mục tiêu đó là rất cấp thiết và cấp bách trong bối cảnh hiện nay.

Tận dụng cơ hội để phát triển

Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội mà nếu tận dụng được, thị trường lao động Việt Nam chắc chắn sẽ có thể phát triển nhanh, bền vững như kỳ vọng.

Trước hết, Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 đã định hình mô hình phát triển đất nước theo hướng trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại (năm 2030) và là nước phát triển (năm 2045), trong đó một lần nữa nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực là một trong ba đột phá chiến lược.

Thứ hai, trong mô hình tăng trưởng mới, quy mô thị trường lao động đến năm 2025 là khoảng 60 triệu người, trong đó hơn 70% làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ sẽ là thị trường lao động theo hướng hiện đại với nhiều ngành nghề mới, nhiều phân lớp thị trường nhân lực, đòi hỏi những tiêu chuẩn lao động mới, kỹ năng mới.

Thứ ba, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra rất nhanh, tác động mạnh mẽ, sâu rộng, đa chiều đến mọi quốc gia, ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Kinh tế số sẽ làm thay đổi phương thức quản lý, tổ chức, vận hành thị trường lao động, mô hình việc làm, đào tạo nâng cao chất lượng lao động… Đồng thời, quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam sẽ phụ thuộc phần nhiều vào sự phát triển của thị trường lao động.

Thứ tư, đổi mới mô hình tăng trưởng nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, gắn với phát triển bền vững đòi hỏi tạo thêm nhiều việc làm mới, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, rút ngắn khoảng cách nhân lực qua đào tạo ở các khu vực thành thị và nông thôn. Và chúng ta còn rất nhiều dư địa cho hiện đại hóa nguồn cung, hiện đại hóa cầu lao động của nền kinh tế.

Thứ năm, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam diễn ra nhanh chóng và sâu rộng. Triển khai chủ động, hiệu quả 15 hiệp định tự do thương mại đa phương và song phương sẽ đem lại những bước phát triển tích cực cho thị trường lao động Việt Nam.

TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 2.

Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Đào Ngọc Dung báo cáo về tình hình thị trường lao động Việt Nam - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Khơi thông các điểm nghẽn của thị trường lao động

Thứ nhất, phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại và bền vững, tạo việc làm có năng suất cao; thực hiện đột phá phát triển nguồn nhân lực, đầu tư mạnh mẽ vào vốn con người, trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài; đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp, nâng tầm kỹ năng lao động, phổ cập nghề cho lực lượng lao động, đặc biệt là lao động trong khu vực phi chính thức; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng và chủ động thích ứng với xu hướng già hóa dân số.

Thứ hai, nhà nước giữ vai trò kiến tạo, quản lý và điều tiết phát triển thị trường lao động thông qua việc hoàn thiện nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để hạn chế những rủi ro liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của người lao động trong bối cảnh diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thứ ba, hỗ trợ tối đa cho người lao động, doanh nghiệp tham gia thị trường lao động. Tập trung triển khai ngay các giải pháp cấp bách và trước mắt nhằm tháo gỡ những vấn đề của người lao động, doanh nghiệp để khơi thông các điểm nghẽn của thị trường lao động, tạo đà phục hồi nhanh và phát triển bền vững.

Thứ tư, Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý và tổ chức vận hành các yếu tố của thị trường lao động để có sự đột phá trong công tác quản lý nhà nước và hoạt động của thị trường lao động.

Những giải pháp trước mắt nhằm phục hồi, ổn định thị trường lao động 

Tăng cường công tác thông tin truyền thông để khẳng định với các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước: Thị trường lao động Việt Nam minh bạch, hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đủ điều kiện, khả năng để cung ứng nhân lực theo yêu cầu của các doanh nghiệp.

Khẩn trương rà soát, đánh giá nhu cầu nhân lực theo từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng để kịp thời kết nối việc cung ứng nhân lực. Đặc biệt là đánh giá nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

Rà soát, đánh giá, sắp xếp tổ chức, đầu tư nâng cao năng lực của hệ thống đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, nhất là nhân lực chất lượng cao.

Tổ chức thực hiện các biện pháp để giải quyết nhu cầu thiếu nhân lực cục bộ, giảm sự mất cân đối cung - cầu lao động; phát triển các hình thức giao dịch việc làm theo hướng hiện đại trên nền tảng công nghệ số; thu hút lao động tại chỗ, đào tạo, đào tạo lại, đào tạo thích ứng cho lực lượng lao động đang làm việc.

Giải pháp lâu dài phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập

Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật để phát triển đồng bộ các yếu tố của thị trường lao động, nâng cao hiệu quả hoạt động của các định chế trung gian của thị trường, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động. Nâng cao hiệu quả tổ chức, vận hành thị trường lao động.

Thúc đẩy tạo việc làm bền vững, sử dụng lao động hiệu quả thông qua các chương trình, đề án, chính sách tín dụng hỗ trợ tạo việc làm, tham gia thị trường lao động, đặc biệt quan tâm đến các nhóm lao động đặc thù, lao động yếu thế.

Nghiên cứu, rà soát, đánh giá năng lực hệ thống các cơ sở đào tạo, các kiến nghị và đóng góp ý kiến của yêu cầu của cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp FDI để kịp thời triển khai các giải pháp đào tạo, nâng cao năng lực kỹ năng nghề cho công nhân lao động, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.

Đẩy mạnh đào tạo nghề nghiệp cho người lao động cả trước, trong, sau quá trình tham gia thị trường lao động; cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề, trình độ của lao động trong các doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI, nhất là các ngành nghề khoa học - kỹ thuật - công nghệ và đào tạo các chuyên ngành mới trong chuyển đổi số như trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, dữ liệu lớn, IoT, chuỗi khối,… Tổ chức thực hiện các giải pháp phù hợp để phân luồng học sinh, sinh viên, hướng tới phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao và cơ cấu phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế.

Đầu tư công tác dự báo cung-cầu, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động với nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động hiện đại, đồng bộ, có sự kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu dân cư, đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm.

Hỗ trợ phát triển lưới an sinh và bảo hiểm thông qua cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí cho người lao động khi tham gia thị trường lao động.

Phổ biến các hệ thống chứng nhận nghề, kỹ năng theo tiêu chuẩn quốc tế để hỗ trợ người lao động được tham gia các thị trường lao động trong và ngoài nước; xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động đặc thù, nhất là cho phát triển thị trường lao động nông thôn, phát triển lao động làm công ăn lương trong khu vực kinh tế tư nhân và phát triển thị trường lao động trình độ cao.

08:03 ngày 20/08/2022

 TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 1.

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Cùng với xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát triển thị trường lao động, xác định lao động - việc làm là một trong những nội dung rất quan trọng trong chiến lược phát triển KTXH - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phát biểu mở đầu Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ: Lao động là một yếu tố đầu vào cơ bản của mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và của cả nền kinh tế. Theo K. Marx, cơ sở của giá trị hàng hóa là lao động; hàng hóa là sản phẩm của lao động. Được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường, thị trường lao động có vị trí rất quan trọng; hoạt động hiệu quả của thị trường lao động góp phần bảo đảm ổn định kinh tế, chính trị, xã hội.

Cùng với xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát triển thị trường lao động, xác định phát triển nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá chiến lược. Đồng thời xác định lao động - việc làm là một trong những nội dung rất quan trọng trong chiến lược phát triển KTXH.

Trong những năm qua, thị trường lao động ở Việt Nam đã có những bước phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, ngày càng hội nhập, từng bước tiệm cận với thị trường lao động khu vực và thế giới. Tuy nhiên, thị trường lao động Việt Nam vẫn còn manh mún, chưa chuyên nghiệp, thiếu tính linh hoạt, chưa thật bền vững; công tác nghiên cứu, dự báo, khớp nối cung cầu và cập nhật hệ thống thông tin thị trường lao động chưa thực sự hiệu quả và chuyên nghiệp. Từ đầu năm 2020 đến nay, dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng nặng nề tới thị trường lao động trong nước và thị trường xuất khẩu lao động.

Trước tình hình đó, cùng với những giải pháp phòng, chống dịch bệnh, Đảng, Nhà nước đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành và triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách liên quan tới thị trường lao động. Nhờ đó, sau khi chuyển sang "thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19", thị trường lao động đã từng bước được phục hồi và phát triển, góp phần quan trọng vào sự khởi sắc của nền kinh tế - xã hội nước ta. Quy mô lực lượng lao động, tỉ lệ tham gia lao động và số người có việc làm tiếp tục tăng . Tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động giảm dần.

Tuy nhiên, phát triển thị trường lao động vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức cả trước mắt và lâu dài để đáp ứng yêu cầu phục hồi, phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay. Trên tinh thần đó, Hội nghị hôm nay với chủ đề "Phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập" để cùng nhau đánh giá những kết quả đạt được của thị trường lao động trong những năm qua, đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, hạn chế, khó khăn, thách thức và những vấn đề đang đặt ra hiện nay để có các giải pháp phù hợp phát triển thị trường lao động trong thời gian tới, nhất là chủ động ứng phó với những tình huống đột xuất, bất ngờ, những cú sốc trên thị trường do tác động từ bên ngoài hoặc nội tại nền kinh tế.

Vừa qua, Chính phủ đã tổ chức hội nghị về phát triển thị trường vốn, sau đó đã kiểm soát tình hình tốt hơn và thị trường có chiều hướng lành mạnh hơn, hiệu quả qua, bền vững hơn; tiếp đó, tổ chức hội nghị về thị trường bất động sản, để thị trường có những bước tiến và các bất cập đang dần được khắc phục. Như vậy, Chính phủ ra tuyên bố ổn định và phát triển các loại thị trường – một trong "4 ổn định" trong trọng tâm, chỉ đạo điều hành của Chính phủ hiện nay, theo cách tiếp cận thị trường, rất linh hoạt, phù hợp tình hình.

TỔNG THUẬT: Thủ tướng lắng nghe hiến kế phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập - Ảnh 2.

Thủ tướng Chính phủ: Hội nghị "Phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập" nhằm tìm ra các giải pháp phù hợp phát triển thị trường lao động trong thời gian tới - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Việt Nam đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện: (1) Nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN (đầu tư, kinh doanh theo quy luật thị trường, theo quy luật cung-cầu nhưng có sự can thiệp của Nhà nước khi cần thiết). (2) Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; (3) Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Quan điểm xuyên suốt là lấy con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, động lực, nguồn lực cho sự phát triển; phát huy tối đa trí tuệ, tài năng, phẩm chất, đạo đức của con người Việt Nam; không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, môi trường để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Đây là lĩnh vực rất quan trọng với nhiều vấn đề, nội dung khác nhau cần được thảo luận kỹ lưỡng, do đó để Hội nghị thực chất, hiệu quả, Thủ tướng đề nghị các đại biểu phát huy tinh thần thẳng thắng, cởi mở, xây dựng, cầu thị, phát biểu ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, trong đó tập trung vào một số nội dung chính sau: (1) Làm thế nào để nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò phát triển thị trường lao động và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững? (2) Đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách về thị trường lao động theo hướng nào để tăng cường quản lý nhà nước và bảo đảm các điều kiện cần thiết cho thị trường lao động phát triển hài hòa, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tế? (3) Những kinh nghiệm trong nước, quốc tế và các giải pháp phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững, hội nhập; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để tăng cường thu hút đầu tư chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa? (4) Giải pháp nào để chủ động ứng phó với những khó khăn, thách thức hiện nay, nhất là những tác động do đại dịch COVID-19 gây ra?

Với nền kinh tế quy mô còn khiêm tốn, nhưng có độ mở lớn, sức chống chịu có hạn, Việt Nam chịu tác động lớn bởi các yếu tố nêu trên, chỉ cần một biến động nhỏ ở bên ngoài có thể tác động lớn đến trong nước. Do đó, chúng ta luôn ở tư thế tích cực, chủ động, linh hoạt ứng phó với các diễn biến mới một cách hiệu quả.

 

Chinhphu.vn