284
+ aa -

Chính trị - Xã hội

Cập nhật lúc : 19/08/2020 09:11
Giá trị, tầm vóc của Cách mạng Tháng Tám
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt lịch sử của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa sau thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại, sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Tám là không thể phủ nhận. Thế nhưng, một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch thường sử dụng để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng, đó là phủ nhận ý nghĩa, giá trị của những thắng lợi, thành quả cách mạng do Đảng lãnh đạo. Bằng cái nhìn chủ quan, phiến diện, với thái độ thiếu thiện chí, các thế lực thù địch đã bóp méo, xuyên tạc sự thật về cuộc Cách mạng Tháng Tám của nhân dân ta. Họ cho rằng: Cách mạng Tháng Tám thành công là “một sự ăn may”; rằng từ sau cuộc đảo chính đêm 9/3/1945, Nhật đã hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương, khi phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng đồng minh vô điều kiện 13/8/1945 thì ở Việt Nam xuất hiện “khoảng trống về quyền lực” và cách mạng nổ ra là dễ dàng giành thắng lợi. Vậy sự thật ở đây là gì? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần nhìn lại sự kiện Cách mạng Tháng Tám năm 1945 một cách thấu đáo.

Có được thành công của Cách mạng Tháng Tám là cả quá trình Đảng đi từ chuẩn bị lực lượng chính trị tới chuẩn bị lực lượng vũ trang, thành lập căn cứ địa cách mạng, tiến hành tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là biểu hiện tập trung nhất của tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập tự do, của ý chí tự lực, tự cường và quyết tâm “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” không trông chờ vào bên ngoài của nhân dân Việt Nam. 

Trở lại lịch sử những năm 1930-1945 cho thấy, vừa mới ra đời Đảng đã tổ chức và lãnh đạo một phong trào quần chúng lớn mạnh, xưa nay chưa từng có trong cả nước mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh. Đánh giá về Xô viết Nghệ - Tĩnh, đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết: “Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt phong trào đó trong một biển máu, nhưng Xô viết Nghệ - Tĩnh đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào tuy thất bại, nhưng nó rèn luyện lực lượng cho cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi sau này”(1). Trước sự khủng bố trắng của quân thù, Đảng  tổn thất nặng nề, cách mạng lâm vào thoái trào những năm 1932-1935, Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định lãnh đạo đấu tranh khôi phục lại hệ thống tổ chức đảng và phong trào cách mạngVới bản Chương trình hành động của Đảng được Quốc tế Cộng sản thông qua, từ đầu năm 1934, phong trào cách mạng từng bước khôi phục và phát triển, đánh dấu bằng việc Đảng triệu tập Đại hội Đảng lần thứ nhất từ ngày 27 đến 31/3/1935 tại Ma Cao (Trung Quốc).

Vượt qua thời kỳ thoái trào của cách mạng, Đảng tiếp tục lãnh đạo phong trào Dân chủ Đông Dương (1936-1939) mà thành quả lớn nhất là đã hình thành đội quân chính trị quần chúng rộng lớn, đó là nhân tố quan trọng bảo đảm cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi.

Cuộc vận động giải phóng dân tộc (1939-1945) là sự chuẩn bị trực tiếp của Đảng dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Hai tháng sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Trung ương Đảng đã họp từ ngày 6 đến 8/11/1939 tại Bà Điểm (Gia Định) do đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Tổng Bí thư chủ trì. Hội nghị đã phân tích sâu sắc bản chất cuộc chiến tranh, đặc điểm cơ bản của cách mạng Đông Dương và kịp thời đề ra một chiến lược rất quan trọng: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”(2).

Tháng 9/1940, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, ách áp bức dân tộc càng trở nên nặng nề, nhân dân Đông Dương phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” (Pháp và Nhật). Trước tình hình đó, từ ngày 6 đến 9/11/1940, Hội nghị Trung ương Đảng đã họp tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) và dự đoán: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: Lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy tự do độc lập”(3)Đồng thời Đảng chỉ rõ: Kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Pháp - Nhật. Khẩu hiệu của Đảng ta là “trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp-Nhật”(4). Hội nghị quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai.  

Ngày 28/1/1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) trở về Cao Bằng. Người triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ tám (5/1941) tại Pắc Bó (Cao Bằng) từ ngày 10 đến 19/5/1941. Phân tích sâu sắc cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và cơ hội phát triển của cách mạng Việt Nam, Hội nghị xác định: “Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta”(5). Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Hội nghị cũng nêu rõ phương châm: “Ta phải luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù… Với một lực luợng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”(6). Hội nghị Trung ương lần thứ tám có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng là đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, một trong những nhân tố đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cuối năm 1942, tình hình thế giới và trong nước biến chuyển mau lẹ. Từ ngày 25 đến ngày 28/2/1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La (Đông Anh - Hà Nội). Tư tưởng chỉ đạo của Đảng là: “Toàn bộ công tác của Đảng lúc này là phải nhằm vào chỗ chuẩn bị khởi nghĩa, để một khi cơ hội đến kịp thời đưa quần chúng nhân dân ra chiến đấu”(7).

 Tháng 9 năm 1943, sau khi ra tù (lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị bắt ngày 29-8-1942 tại phố Túc Vinh, huyện Thiên Bảo, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và bị giam ở các nhà tù của Quốc dân Đảng Trung Hoa), tháng 10/1944, Người viết Thư gửi đồng bào toàn quốc, trong thư Người khẳng định: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”(8). Chính vì vậy, ngay khi phát xít Nhật làm đảo chính lật đổ Pháp (đêm 9/3/1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh). Hội nghị xác định: Sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp, phát xít Nhật là kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương. Khẩu hiệu: “Đánh đuổi Nhật - Pháp” được thay bằng khẩu hiệu: “Đánh đuổi phát xít Nhật” và chính phủ bù nhìn của bọn Việt gian thân Nhật. Hội nghị quyết định “Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa… và sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện”(9). Nội dung của Hội nghị được trình bày trong Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (ban hành ngày 12-3-1945). Bản Chỉ thị yêu cầu các địa phương thực hiện ngay những công việc cần kíp trong công tác tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để sẵn sàng chớp thời cơ giành chính quyền. Căn cứ vào Chỉ thị Nhât - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, Đảng kịp thời đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” và coi đó là khẩu hiệu chính để phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước. Đồng chí Lê Duẩn đánh giá: “Khẩu hiệu này đưa ra giữa lúc nạn đói khủng khiếp đang diễn ra ở Bắc Bộ và Trung Bộ, đáp ứng ngyện vọng cấp bách nhất của quần chúng, do đó đã thổi bùng ngọn lửa căm thù trong đông đảo nhân dân và phát động quần chúng vùng dậy với khí thế cách mạng hừng hực, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền”(10).

Đầu tháng 5/1945, đồng chí Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tuyên Quang, Người chọn Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) làm đại bản doanh để chỉ đạo phong trào cả nước. Người còn chỉ thị: Phải thành lập một khu căn cứ cách mạng rộng lớn lấy tên là Khu giải phóng. Đây là một chủ trương, một quyết định sáng suốt của đồng chí Hồ Chí Minh. Khu giải phóng ra đời, với việc thực hiện 10 chính sách của Việt Minh, hơn 1 triệu đồng bào thuộc các dân tộc khác nhau đã bắt đầu được hưởng một cuộc sống tự do, độc lập do cách mạng đem lại. Nhận xét về Khu giải phóng, đồng chí Trường Chinh cho rằng đó là hình ảnh “nước Việt Nam mới ra đời, một phần Bắc Bộ đã thực tế đặt dưới chính quyền cách mạng”(11).

Ngay khi nhận được tin Chính phủ Nhật gửi công hàm cho Đồng minh chấp nhận đầu hàng không điều kiện (13/8/1945), Hội nghị toàn quốc của Đảng được triệu tập tại Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) từ ngày 13 đến 14/8/1945. Hội nghị nhận định: Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới và quyết định phát động toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, đứng ở địa vị làm chủ nước nhà mà tiếp đón quân Đồng minh. Vì vậy, ngay trong ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc gồm 5 ủy viên, do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư trực tiếp phụ trách. Và vào lúc 23 giờ ngày 13/8 Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1hạ lệnh Tổng khởi nghĩa!Nghị quyết Hội nghị toàn quốc của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng, thể hiện trí tuệ sáng suốt, sự nhạy bén chính trị, tầm nhìn chiến lược và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân ta trước những giờ phút quyết định vận mệnh của dân tộc.

Ngay sau Hội nghị toàn quốc của Đảng kết thúc, Đại hội quốc dân diễn ra tại Tân Trào (Tuyên Quang) ngày 16/8/1945. Đại hội đã nhiệt liệt tán thành và ủng hộ chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh, cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức là Chính phủ cách mạng lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chiều 16/8/1945, thực hiện mệnh lệnh của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, một đội quân cách mạng do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, xuất phát từ Tân Trào tiến về giải phóng Thị xã Thái Nguyên, mở đầu cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước.

Từ ngày 14 đến ngày 18/8, nhiều cấp ủy địa phương tuy chưa nhận được lệnh tổng khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, cũng như tình hình thực tiễn của địa phương đã kịp thời, chủ động, sáng tạo lãnh đạo nhân dân nổi dậy khởi nghĩa. Bốn tỉnh giành chính quyền sớm nhất là Hải Dương, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Quảng Nam (ngày 18/8/1945).

Thời cơ thuận lợi vô cùng hiếm hoi, nguy cơ to lớn đang xuất hiện (quân Đồng minh vào Đông Dương giải giáp quân Nhật). Chính trong tình hình phức tạp đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đã phát động, tổ chức và lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc với quyết tâm sắt đá: “Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!”(12).

Trong thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa”. Người khẳng định: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”(13).

Đáp lời kêu gọi thiêng liêng của Đảng, của Ủy ban dân tộc giải phóng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng với khát vọng độc lập tự do cháy bỏng, hơn 20 triệu nhân dân ta từ Bắc tới Nam đã vùng lên tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi nhanh chóng trong vòng 15 ngày (từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945). Trong đó tiêu biểu là Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội ngày 19/8/1945; ở Huế ngày 23/8/1945 và Sài Gòn ngày 25/8/1945. Ngày 28/8/1945, hai tỉnh cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng khởi nghĩa thắng lợi, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám trên phạm vi cả nước. Ngày 2/9/1945, tại cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với quốc dân đồng bào và toàn thế giới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời! Đồng thời khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam: “Một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”(14).

Những sự kiện trên đây đã chứng minh diễn biến tình hình cả trước và trong Cách mạng Tháng Tám đều được Đảng ta dự báo và chủ động đề ra chủ trương, lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, nhạy bén. Vậy thử hỏi nếu không có tầm nhìn và tư duy chiến lược sắc bén, nếu không có sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì Cách mạng Tháng Tám có nổ ra đúng thời cơ và giành được thắng lợi? Thử hỏi nếu không có sự chủ động chuẩn bị về chính trị, về tổ chức và lực lượng thì khi thời cơ đến, Việt Nam có chớp thời cơ để tiến hành tổng khởi nghĩa được không? Chắc chắn là không! Vậy thì tại sao lại nói cuộc Cách mạng Tháng Tám nổ ra và thành công là “một sự ăn may”! Hơn nữa, nếu không dự đoán thời cơ chính xác, không kịp thời chớp thời cơ thì Đảng ta có thể phát huy được sức mạnh tổng hợp của quần chúng để phát động tổng khởi nghĩa thắng lợi hay không? Chắc chắn là không thể! Vậy căn cứ vào đâu để nói rằng thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là “một sự ăn may”?

Còn luận điệu: Khi Nhật đã hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương, việc Liên Xô và quân Đồng minh đánh bại phát xít Nhật đã tạo ra "khoảng trống về quyền lực" ở Việt Nam, là một sự xuyên tạc trắng trợn. Trên thực tế, khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, quân Nhật vẫn rất mạnh, “riêng tại Hà Nội lúc đó có khoảng 1 vạn quân Nhật chiếm đóng”(15). Bằng chứng là ngay cả khi Chính phủ Nhật tuyên bố đầu hàng, quân đội Nhật ở Đông Dương vẫn không chịu từ bỏ địa vị thống trị của chúng, vẫn hà hơi tiếp sức cho chính quyền tay sai đang trong cơn hấp hối: Tại Bắc Kỳ, Nhật trao cho Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim 2.000 súng và đạn… Tuyên cáo của hiến binh Nhật cấm nhân dân tụ họp được dán khắp nơi. Tại Trung Kỳ, quân Nhật tuyên bố: “Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khiquân Đồng minh đến thay”. Chúng còn đề nghị Bảo Đại cho lính Nhật được bảo vệ Hoàng cung, nhà vua và nội các!. Tại Sài Gòn, Nhật tuyên bố chính thức trao trả Nam Kỳ cho chính quyền bù nhìn vào ngày 16/8/1945, nhưng chúng đã vũ trang cho các tổ chức, các băng đảng, giáo phái thân Nhật. Thâm độc hơn, chúng còn âm mưu trao trả quyền thống trị cho Pháp(16)… Và ngay cả khi quân và dân ta tiến hành tổng khởi nghĩa, quân Nhật vẫn chống cự quyết liệt… chẳng dễ gì chúng buông súng bàn giao chính quyền cho nhân dân Việt Nam. Cần khẳng định rằng, chẳng hề có một "khoảng trống về quyền lực" nào cả. Có chăng sự tấn công của Liên Xô và quân Đồng minh chỉ làm cho quân Nhật suy yếu, tạo ra thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam mà thôi!

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng tự do. Chúng ta phải ra sức phấn đấu. Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập”. Đáp Lời hiệu triệu của Đảng Cộng sản Đông Dương: “Ngày vĩ đại và quyết liệt của dân tộc đã đến. Chúng ta hãy vùng dậy tuốt gươm lắp súng để định đoạt số phận của mình. Chúng ta quyết thắng và sẽ thắng”(17), cả dân tộc Việt Nam đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất!

Mít tinh Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 tại Quảng trường Nhà hát Lớn (19/8/1945).

Như vậy, thực chất của luận điệu cho rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam nổ ra và thành công là “một sự ăn may”, là do “có khoảng trống về quyền lực” không gì khác vẫn là nhằm phủ nhận những thành quả, ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám và xa hơn là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 75 năm đã trôi qua, ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại, sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Tám ngày càng lan tỏa. Trách nhiệm của những người Việt Nam yêu nước chân chính trước hết là phải hiểu đúng, nhận thức rõ: Giá trị, tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Tám là không thể phủ nhận!

Trước thềm Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Namcác thế lực thù địch ở trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng các hoạt động quyết liệt và thâm hiểm nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta, chúng xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng, phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành quả đã đạt được trong các cuộc chiến tranh và trong công cuộc đổi mới đất nước… Vì vậy, chúng ta cần:  “Chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; các biểu hiện cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác; không để suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(18). Đồng thời phải luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, nhận rõ những âm mưu và hành động thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động, kiên quyết vạch trần, đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài, diễn ra quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận./.

1- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, tập 10. tr. 9.

2- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tậpNxb CTQG, H, 2000, tập 6, tr.536.

3,4,5,6,7,17- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7: Tr.58; tr.112; tr.118-119; tr.131-132; tr.298tr.562-563.

8,13,14- Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 505-506; tr.554; tr.557.

9- Trường Chinh: Chỉ thị Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2-1992.

10- Lê Duẩn: Dưới lá cơ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do, vì CNXH, tiến lên giành những thắng lợi mới. Nxb Sự thật, 1976, tr.46.

11- Trường Chinh: Cách mạng Tháng Tám (xuất bản lần thứ sáu), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.21.

12- Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà raNxb QĐND, H, 1969, tr. 212.

15- PGS,TS Nguyễn Chí Mỳ: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở Thủ đô Hà Nội và ý nghĩa đối với phong trào cách mạng trong toàn quốc. In trong cuốn: Cách mạng Tháng Tám 1945 - Giá trị lý luận và thực tiễn (Kỷ yếu Hội thảo khoa học) Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006.

16- Học viện CTQG, Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I (1930-1954), Hà Nội, 2012.

18- Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, http://tuyengiao.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/tang-cuong-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-dau-tranh-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-trong-tinh-hinh-moi-125763

PGS, TS Nguyễn Thị Thanh _ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

 

UBKT TW