
Không nên cấm đoán
Trả lời cho câu hỏi có cần thiết quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo hay không, đa số ĐBQH đều khẳng định là cần. Nhưng vấn đề là quản lý ở mức độ thế nào và phương thức ra sao thì cảm nhận chung của các ĐBQH là chưa đạt yêu cầu.
Từ góc độ của cơ quan thẩm tra, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục,TN,TNvà NĐ nhận thấy các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện trong Dự thảo Luật chưa tương xứng với yêu cầu thể chế hóa tinh thần và nội dung mới của Hiến pháp 2013. Một số quy định trong Dự thảo Luật còn chung chung, chỉ là sự nhắc lại quy định của Hiến pháp. Đối tượng được ghi nhận và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn chưa đầy đủ. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của con người tuy đã được mở rộng song còn bị ràng buộc bởi phương thức quản lý đòi hỏi sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước.
Muốn thông thoáng, đúng với tinh thần rộng mở của Hiến pháp đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thì trước hết các quy định về trình tự, thủ tục đăng ký hoạt động tôn giáo và công nhận tổ chức tôn giáo mới thành lập phải cụ thể, bảo đảm các hoạt động diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo - ĐBQH Võ Thị Dung (TP Hồ Chí Minh) nêu vấn đề. Các quy định về chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo, hay thành lập trường, giải thể trường, mở lớp bồi dưỡng cho những người chuyên hoạt động tôn giáo... phải hợp lý, hạn chế tối đa sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động nội bộ của tổ chức tôn giáo. Song theo ĐBQH Lê Văn Tân (HàNam), Dự thảo Luật có quá nhiều quy định mang tính chất can thiệp vào công việc nội bộ của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Thực tế cho thấy, do tính đặc thù của tín ngưỡng, tôn giáo là hoạt động mang tính tinh thần, tâm linh và nhu cầu tự thân của mỗi con người, thì cách quản lý không nên theo hướng cấm đoán hành chính. Bởi, nếu không cấp phép thì những hoạt động tinh thần, tâm linh ấy vẫn diễn ra bình thường. Khi đó, vô hình trung, cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo lại tự đặt mình vào thế khó (?). Đấy là chưa kể trong Dự thảo Luật đang đặt ra quá nhiều trình tự, thủ tục liên quan đến việc phải xin phép, cấp phép, hay phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, suy cử, cách chức, bãi nhiệm, thuyên chuyển chức sắc trong tôn giáo - ĐBQH Nguyễn Thị Kim Thúy (Đà Nẵng) chỉ rõ.
Còn nặng xin - cho
Đối với lĩnh vực mang tính tinh thần và tâm linh như tín ngưỡng, tôn giáo thì phương án tối ưu và khả thi hơn cả nên là quản lý mà như không... quản lý. Trong khi đó, hầu hết các quy định trong Dự thảo Luật liên quan đến quản lý nhà nước còn nặng nề, mang tính hành chính, xin - cho, chưa thể hiện được quan điểm tôn trọng, bảo hộ, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; hạn chế sự can thiệp hành chính của Nhà nước vào các công việc nội bộ của tổ chức tôn giáo. Khi đã quy định theo hướng xin - cho, thì thực tế không khó đoán là cơ quan chức năng có thể cho hoặc không cho. Quy định như vậy không những khó bảo đảm tính khả thi mà còn dễ tạo kẽ hở để một số tổ chức nước ngoài đánh giá ViệtNam chưa có tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Do vậy, việc quy định nội dung và hình thức quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cần được xem xét dưới góc độ các biện pháp của Nhà nước để bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng tinh thần của Hiến pháp 2013. Cần chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước đối với tín ngưỡng, tôn giáo từ kiểm soát sang giám sát và hướng dẫn, từ cơ chế xin phép - cấp phép hoặc đăng ký - chấp thuận sang cơ chế đăng ký - thẩm định theo các điều kiện được quy định cụ thể, rõ ràng. Đặc biệt, cần phân định rõ tính chất, mức độ khác nhau của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để có phương thức quản lý phù hợp.
Một trong những nút thắt đầu tiên cần xử lý đối với đạo luật vốn được đánh giá là khó và nhạy cảm này là rà soát một cách tổng thể các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể hóa nội hàm của nó, đồng thời gỡ bỏ các quy định nặng về quản lý nhà nước mà chưa thực sự cởi mở theo đúng tinh thần của Hiến pháp 2013.
ĐBQH, Hòa thượng THÍCH CHƠN THIỆN (Thừa Thiên Huế): Nên tách thành hai đạo luật
Theo tôi, Dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo nên tách riêng thành hai đạo luật là: Luật Tín ngưỡng và Luật Tôn giáo. Vì tín ngưỡng là phạm trù của niềm tin nhân thế nên rất đa phức, khó xác định rõ ràng, khó luật hóa. Còn tôn giáo là phạm trù có cơ cấu tổ chức, có hệ thống giáo lý, tín điều, có một nội hàm văn hóa, văn minh rất ổn định. Đặc biệt, riêng Đạo Phật (trên thế giới và ở Việt Nam) là nếp sống hiện thực và nhân bản, là nội hàm rất trí tuệ, có thể có nhiều đóng góp tích cực cho xứ sở trong quá khứ cũng như hiện đại. Điển hình như hai triều đại Lý, Trần 400 năm ở Việt Nam, Đạo Phật từng là quốc giáo, đã hình thành một dòng văn hóa Phật giáo Việt Nam. Luật về tôn giáo cần mở rộng cho hoạt động của dòng văn hóa này để tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc.
Về cơ quan quản lý tôn giáo của Chính phủ, tôi cho rằng, tôn giáo là con đường sống, nếp sống tinh thần nổi bật với sắc thái văn hóa, giáo dục con người nên cơ quan quản lý nhà nước phải là Bộ Giáo dục và Đào tạo, thích hợp hơn là Bộ Nội vụ, còn nặng về quản lý tổ chức, hành chính. Đối với pháp nhân tôn giáo, Dự án Luật chưa có quy định về tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo. Đề nghị cần xác định rõ việc bảo đảm quyền lợi của các tín đồ tôn giáo, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo khi tham gia vào các quan hệ dân sự. Do vậy, chúng tôi thống nhất với ý kiến thẩm tra rằng cần quy định pháp nhân của tôn giáo như Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đã đề cập.