
MẤY VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC
VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC*
NGUYỄN THẾ TRUNG**
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng, với tinh thần "có dân là có tất cả", "dân ủng hộ ta ít, ta thắng lợi ít, dân ủng hộ ta hoàn toàn, ta thắng lợi hoàn toàn", trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng, Đảng ta luôn luôn xác định công tác vận động quần chúng là vấn đề chiến lược của cách mạng, là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên và lâu dài của từng tổ chức trong hệ thống chính trị của nước ta; là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và của mỗi một người dân. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, có những mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và đối tượng của cách mạng khác nhau; vì vậy, công tác vận động quần chúng cũng được thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tiễn của cuộc sống và nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta tiếp tục phát huy những bài học kinh nghiệm của công tác vận động quần chúng, khơi dậy các nguồn lực của đất nước nên đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.
I. TRONG NHỮNG NĂM QUA, VIỆC ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CỦA ĐẢNG ĐÃ THỰC SỰ GÓP PHẦN THÚC ĐẨY SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Trước hết, đổi mới về nội dung.
Năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng đánh dấu một mốc son lịch sử trong tiến trình xây dựng và đổi mới đất nước. Để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội, ngày 27-3-1990, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 8B-NQ/TW về "Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân". Trong gần 30 năm qua, Đảng đã có nhiều chủ trương để đổi mới lĩnh vực công tác dân vận của hệ thống chính trị, thể hiện rõ trên các mặt sau đây:
1. Mục tiêu của công tác dân vận ngày càng rõ hơn. Trước hết, công tác dân vận nhằm tập hợp, giác ngộ, đoàn kết và huy động lực lượng của các tầng lớp nhân dân thực hiện nhiệm vụ mà Đảng đề ra là kháng chiến giành độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc (trước đây) và ngày nay là vận động, tập hợp nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
2. Chủ trương, chính sách, giải pháp công tác vận động quần chúng ngày càng phong phú, hoàn chỉnh, đi sâu từng lĩnh vực, từng đối tượng nhằm vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ theo nghị quyết của Đảng, đó là:
Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, ngày càng được trí thức hóa, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao.
Chăm lo xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở đó: "Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài".
Xây dựng đội ngữ trí thức lớn mạnh, chất lượng cao, số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới.
Tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam có lòng yêu nước, tự cường dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa, vì cộng đồng, có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế, có sức khỏe, tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp trong lao động tập thể, trở thành những công dân tốt của đất nước.
Xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có tinh thần dân tộc, giác ngộ chính trị, văn hóa kinh doanh, có trách nhiệm xã hội cao, có đủ năng lực, trình độ để lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp hoạt động có chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh cao, liên kết chặt chẽ, tham gia tích cực vào mạng sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu...
Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ. Nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế...
Củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển... Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước...
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức và tình hình thực tế trong nước và quốc tế, Đảng ta đã đổi mới nội dung lãnh đạo, định hướng hoạt động cho từng giai cấp, từng tầng lớp nhân dân nên hiệu quả lãnh đạo có những chuyển biến tích cực (đối với mỗi tổ chức chính trị - xã hội, Đảng đều có nghị quyết để lãnh đạo).
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và các hội quần chúng phát triển đa dạng và từng bước đổi mới hoạt động. Trong quá trình đổi mới, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng đã đi sâu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và đáp ứng lợi ích của đoàn viên, hội viên và đối tượng vận động, do đó mà tăng được khả năng tập hợp quần chúng vào tổ chức.
4. Các cấp ủy đảng đã tăng cường công tác dân vận, kiện toàn, củng cố các ban dân vận của cấp ủy đảng.
Ở Trung ương, tỉnh, huyện, thị xã đều có ban dân vận; ở xã, phường, thị trấn có khối dân vận. Ngày 25-2-2010, Bộ Chính trị (khóa X) ban hành Quyết định số 290-QĐ/TW "về việc ban hành quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị". Quy chế đã xác định rõ nội dung, phương thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng và từng thành viên trong hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương đối với công tác dân vận. Từ khi có Quy chế, quan hệ phối hợp công tác dân vận của hệ thống chính trị chặt chẽ và hiệu quả hơn.
5. Đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng ngày càng được các cấp ủy quan tâm nên chất lượng được nâng lên một bước. Công tác bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ được tăng cường. Nội dung bồi dưỡng được chỉ đạo nghiên cứu, biên soạn có chất lượng tốt hơn.
Về phương thức công tác vận động quần chúng cũng có sự đổi mới theo hướng trực tiếp với cơ sở, gần dân, sát dân hơn, được thể hiện trên mấy vấn đề sau:
1. Nâng cao chất lượng các định hướng của Đảng đối với các tổ chức quần chúng về chính trị, tư tưởng, nội dung và phương thức hoạt động, tổ chức và cán bộ. Các định hướng đó được cụ thể hóa cho từng giai cấp (công nhân, nông dân), từng tầng lớp nhân dân như trí thức, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, người Việt Nam ở nước ngoài. Đảng lãnh đạo nhân dân bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục và chứng minh cho nhân dân thấy tính đúng đắn, tính khoa học trong đường lối, quyết sách của mình.
2. Đảng quan tâm hơn trong việc lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác vận động quần chúng thành các văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thực hiện. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và cân đối nguồn lực, kinh phí cho tổ chức và hoạt động của các đoàn thể nhân dân.
3. Đảng quan tâm phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng những cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu và có kinh nghiệm, có kỹ năng vận động quần chúng để giới thiệu, phân công phụ trách công tác vận động quần chúng.
4. Coi trọng lãnh đạo việc tổ chức thực hiện, đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết các nghị quyết của Đảng về công tác vận động quần chúng. Thường xuyên kiểm tra, 5 năm tiến hành sơ kết, 10 năm tổng kết việc thực hiện các nghị quyết theo quy định.
5. Tăng cường lãnh đạo sự phối hợp và thường xuyên đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình phối hợp công tác dân vận giữa các tổ chức, giữa các cơ quan chính quyền với các đoàn thể nhân dân; giữa các lực lượng tham gia làm công tác dân vận trên địa bàn với già làng, trưởng bản, người có uy tín...
6. Đổi mới phương thức, hình thức trực tiếp trao đổi, tiếp xúc với nhân dân; tổ chức đối thoại trực tuyến; tổ chức các diễn đàn trao đổi, chất vấn; xây dựng trang thông tin điện tử với các chuyên mục như: dân hỏi - chính quyền trả lời; dân hỏi - bộ trưởng trả lời... đã thực sự nâng cao hiệu quả về công tác vận động quần chúng và niềm tin của dân đối với Đảng.
Tuy nhiên, công tác vận động quần chúng của hệ thống chính trị cũng còn bộc lộ một số vấn đề tồn tại, khuyết điểm, nổi lên là:
Cơ chế Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - nhân dân làm chủ đã được xác định từ lâu nhưng chưa được cụ thể hóa đầy đủ và đồng bộ thành một hệ thống quy định, thể chế thích hợp. Tình trạng quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước chưa được khắc phục; kỷ cương phép nước còn bị xem thường, thậm chí còn có những hành vi lợi dụng dân chủ để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, mối quan hệ giữa Đảng với dân. Phương thức tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân không ít nơi vẫn còn tình trạng hành chính hóa, chậm đổi mới, một số cán bộ đoàn thể bị "công chức hóa", chưa thật gần với quần chúng nhân dân. Đảng còn lãnh đạo nhân dân bằng sự gương mẫu của đảng viên nhưng một bộ phận cán bộ, đảng viên lại thiếu gương mẫu, vi phạm dân chủ, tham nhũng, làm giàu bất chính gây bức xúc trong các tầng lớp nhân dân.
II. MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TIẾP TỤC ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG
1. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, không ngừng nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền về công tác vận động quần chúng của Đảng trong tình hình mới. Thường xuyên phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào thi đua "Dân vận khéo" trong xây dựng nông thôn mới và thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội ở cơ sở. Có nhiều hình thức tuyên truyền về truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc; tăng cường giáo dục lòng yêu nước, ý thức chính trị và trách nhiệm xã hội của công dân.
2. Tiếp tục nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước; ban hành các chủ trương, chính sách hợp lòng dân; khuyến khích nhân dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng, trí tuệ và các lợi thế trong dân, mở rộng đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng thu nhập và cải thiện đời sống.
Tiếp tục đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính phục vụ nhân dân và doanh nghiệp. Tăng cường tiếp xúc, đối thoại, tháo gỡ khó khăn cho nhân dân; hỗ trợ vốn, vật tư... để nhân dân phát triển sản xuất, kinh doanh, ổn định cuộc sống. Giải quyết hài hòa chính sách đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là trong đền bù, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng; thực hiện chính sách công bằng, bảo đảm lợi ích cho các tầng lớp nhân dân khi tham gia vào các chương trình kinh tế, xã hội của đất nước.
Nâng cao vai trò, ý thức và trách nhiệm của cán bộ, công chức, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác dân vận. Phối hợp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cán bộ; đổi mới phong cách dân vận của cán bộ, công chức, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, quy tắc giao tiếp hành chính và thực hiện tốt trách nhiệm công vụ trong giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân.
Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp dân, giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng trong thời kỳ mới.
3. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân; trách nhiệm của đoàn viên, hội viên; trách nhiệm của già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, người có uy tín trong công tác vận động quần chúng của Đảng.
Tăng cường phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị và các lực lượng trên địa bàn về công tác vận động quần chúng. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong giám sát, góp ý cho cán bộ, công chức và tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh.
4. Thực hiện rộng rãi và có hiệu quả các chủ trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc, về công tác dân tộc, công tác tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân cho sự nghiệp đổi mới đất nước; tăng cường mối quan hệ máu thịt, gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân. Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các tổ chức và bạn bè quốc tế, góp phần tạo sự đồng thuận và sức mạnh mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
5. Tiếp tục cụ thể hóa phương châm: dựa vào dân để xây dựng Đảng; sớm xây dựng và ban hành các quy chế, quy định về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trước khi ban hành; xây dựng và ban hành cơ chế để nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; phát huy trách nhiệm của nhân dân trong xây dựng Đảng và thực hiện các chương trình kinh tế, xã hội của đất nước.
6. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động quần chúng, đối với các tầng lớp nhân dân, tiếp tục huy động, tập hợp và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tạo thành một khối thống nhất về ý chí và hành động, ra sức xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ toàn vẹn, vững chắc chủ quyền biên giới, hải đảo của Tổ quốc.
Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, bổ sung và kịp thời ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng về công tác vận động quần chúng, về các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới.
7. Quan tâm xây dựng nguồn, quy hoạch, tuyển chọn, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ vừa có trình độ, năng lực, vừa có kinh nghiệm, kỹ năng vận động quần chúng, gương mẫu, có uy tín để giới thiệu, bố trí công tác ở Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp.
Chỉ đạo các trường đào tạo cán bộ đảng, các trung tâm chính trị, các trường đào tạo chuyên ngành về nội dung, chương trình giảng dạy về công tác dân vận, về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, về tăng cường mối quan hệ Đảng và dân, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
_________________
* Bài đăng trên Tạp chí Dân vận, số tháng 8-2012
** Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Dân vân Trung ương