In trang

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác tôn giáo trong tình hình hiện nay
Cập nhật lúc : 21:41 01/02/2015

Là một thực thể và hình thái ý thức xã hội, tôn giáo liên quan mật thiết đến các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, văn hóa, giáo dục, đạo đức, lối sống... Chức năng của tôn giáo không chỉ là nhận thức thế giới mà còn là liên kết cộng đồng, điều chỉnh hành vi của con người. Nắm rõ vai trò và tầm quan trọng của tôn giáo và công tác tôn giáo nên ngay từ khi ra đời cho đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán trong chủ trương, chính sách tôn giáo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ hệ thống chính trị và công tác quản lý tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận nhân dân; đồng thời kiên quyết đấu tranh chống lại các âm mưu lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

VỚI CÔNG TÁC TÔN GIÁO TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY*

 

NGUYỄN MẠNH HÙNG** 

Là một thực thể và hình thái ý thức xã hội, tôn giáo liên quan mật thiết đến các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, văn hóa, giáo dục, đạo đức, lối sống... Chức năng của tôn giáo không chỉ là nhận thức thế giới mà còn là liên kết cộng đồng, điều chỉnh hành vi của con người. Nắm rõ vai trò và tầm quan trọng của tôn giáo và công tác tôn giáo nên ngay từ khi ra đời cho đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán trong chủ trương, chính sách tôn giáo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ hệ thống chính trị và công tác quản lý tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận nhân dân; đồng thời kiên quyết đấu tranh chống lại các âm mưu lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ ta tuyên bố "Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết". Các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc từ lần thứ II cho đến lần thứ V liên tục khẳng định quan điểm cơ bản, mang tính định hướng của Đảng về tự do tôn giáo.

Nhưng, tư duy về tôn giáo và công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta thực sự đổi mới với dấu mốc quan trọng là sự ra đời của Nghị quyết 24/NQ-TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị. Đảng ta thừa nhận "tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài", "tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân lao động có đạo" và "đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới".

Sự đổi mới tư duy về tôn giáo của Đảng một lần nữa tiếp tục được khẳng định và phát triển cao hơn nữa trong Nghị quyết số 25/NQ-TW ngày 12-3-2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX. Nếu ở Nghị quyết số 24/NQ-TW, Đảng cho rằng "tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, thì đến Nghị quyết số 25/NQ-TW, Đảng đã xác định tôn giáo không chỉ tồn tại lâu dài mà sẽ tiếp tục đồng hành cùng dân tộc, đặc biệt là đồng hành với chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Quan điểm "lương giáo đoàn kết" một lần nữa được Đảng ta khẳng định: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc". Thuật ngữ "đồng bào các tôn giáo" được dùng thay thế cho các thuật ngữ thường dùng trước đây như "tín đồ các tôn giáo", "một bộ phận nhân dân lao động có đạo" là sự phát triển mới trong nhận thức vì hai chữ "đồng bào" thể hiện rằng những người có niềm tin tôn giáo và không có tôn giáo đều chung một "bọc", đều là con em của dân tộc Việt Nam, đều là công dân của nước Việt Nam. Và để tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng chỉ rõ công tác tôn giáo là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Nghị quyết cũng nêu rõ các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, nhưng cũng nghiêm cấm việc theo đạo, truyền đạo trái pháp luật.

Để thể chế hóa chủ trương của Đảng, nhiều văn bản chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề tôn giáo đã được ban hành. Nghị định số 69/HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 21-3-1991, Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 14-9-1999 của Chính phủ và đặc biệt Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18-6-2004... đã tạo hành lang pháp lý, góp phần quan trọng vào việc giải quyết những vấn đề tôn giáo nảy sinh trong tình hình mới.

Với hệ thống quan điểm, chủ trương và chính sách nhất quán tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, những năm qua, công tác tôn giáo của nước ta đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận:

Một là, bước đầu đã tiến hành xét duyệt và công nhận tư cách pháp nhân tôn giáo theo đúng thẩm quyền pháp lý. Để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng cho đồng bào có đạo, đáp ứng nhu cầu cần có một tổ chức tôn giáo để chăm lo việc đạo, đồng thời quản lý các tôn giáo theo Hiến pháp, pháp luật, ngăn chặn âm mưu đội lốt, giả danh tổ chức tôn giáo vì mục đích chính trị của các thế lực xấu, Nhà nước đã cấp giấy đăng ký hoạt động và công nhận về mặt tổ chức cho 31 tổ chức của 12 tôn giáo. Trong đó, 10 tôn giáo đã được chính thức thừa nhận tư cách pháp nhân. Đặc biệt, sau khi có Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg về một số công tác đối với đạo Tin lành, đã có gần 1.000 chi hội Tin Lành ở Tây Nguyên được công nhận và trên 100 điểm nhóm Tin Lành ở khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc được cho phép đăng ký hoạt động. Đa số các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp nhân, đều xây dựng cho mình đường hướng hành đạo đồng hành cùng dân tộc.

Hai là, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo xây, sửa nơi thờ tự theo đúng quy định của pháp luật. Nhiều nhà thờ, chùa chiền, thánh thất... được xây dựng mới, trùng tu, tôn tạo ngày càng khang trang, tạo điều kiện cho tín đồ sinh hoạt tôn giáo. Từ năm 2005 đến nay, cả nước có tổng cộng 23.464 cơ sở thờ tự của các tôn giáo, trong đó xây dựng mới được trên 242 cơ sở và trùng tu, nâng cấp trên 320 cơ sở...

Ba là, có sự quản lý tương đối chặt chẽ, bảo đảm tuân thủ các quy trình, thủ tục pháp luật trong việc xét duyệt chương trình hành đạo thường xuyên và đột xuất của các tôn giáo, xét duyệt quá trình đào tạo chức sắc tôn giáo, xét duyệt quá trình sản xuất, lưu thông đồ dùng việc đạo và xét duyệt một số việc thuộc hành chính đạo như thuyên chuyển, bổ nhiệm..chức sắc tôn giáo. Nhờ làm tốt công tác quản lý này mà thời gian qua, đa số các tôn giáo đã thực hiện các hoạt động hành đạo, truyền đạo và quản đạo đúng với quy định của Nhà nước. Đội ngũ chức sắc tôn giáo không ngừng tăng cao cả về số lượng lẫn chất lượng. Hiện cả nước có 64.079 chức sắc tôn giáo, trong đó có nhiều vị được đào tạo bậc thạc sĩ, tiến sĩ tại các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước.

Bốn là, làm tốt công tác vận động quần chúng, giáo dục và động viên các tổ chức tôn giáo tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động từ thiện, xã hội. Đại bộ phận quần chúng tín đồ và chức sắc tôn giáo đã ủng hộ và tham gia các chương trình phát triển kinh tế -xã hội địa phương, các phong trào xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, v.v.. Hầu hết các tôn giáo đều làm tốt công tác từ thiện nhân đạo, tổ chức quyên góp trợ giúp các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đồng bào bị thiên tai, bão lụt, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người già cô đơn không nơi nương tựa...

Năm là, xử lý tốt các khiếu kiện, tố cáo liên quan đến nguồn gốc tôn giáo và vi phạm chính sách tôn giáo, không ngừng cảnh giác, đấu tranh chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch. Những năm qua, kẻ địch luôn lợi dụng chiêu bài tôn giáo để can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Nhà nước ta, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và gây mất ổn định chính trị. Nhiều điểm nóng tôn giáo liên quan đến Tin Lành Vàng Chứ và Tin Lành Thìn Hùng ở miền núi phía Bắc, Tin Lành Đê ga ở Tây Nguyên... đã được giải quyết tốt nhờ ý thức cảnh giác và chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.

Sáu là, thực hiện tốt công tác đối ngoại tôn giáo để giúp bạn bè quốc tế hiểu được thực chất tình hình tự do tôn giáo ở nước ta hiện nay. Nhiều tổ chức tôn giáo nước ngoài đã đến thăm và làm việc với các tổ chức tôn giáo Việt Nam, ngược lại nước ta cũng có nhiều phái đoàn tôn giáo sang thăm và làm việc tại nước ngoài. Từ năm 1993 đến năm 2008 có gần 40.000 lượt giáo sĩ Việt Nam ra nước ngoài.

Bên cạnh những thành tựu trên, công tác tôn giáo của ta còn một số yếu kém, bất cập cần được khắc phục trong thời gian sớm nhất:

Một là hoạt động tôn giáo có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố có thể gây mất ổn định chính trị xã hội. Các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền để kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là ở những vùng có đông đồng bào tôn giáo là người dân tộc thiểu số và có điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí thấp kém.

Hai là, còn tồn đọng nhiều vụ việc khiếu kiện liên quan đến tôn giáo. Thời gian qua, các vụ khiếu kiện liên quan đến cơ sở vật chất, đất đai liên quan đến tôn giáo xảy ra theo phản ứng dây chuyền, tạo thành các điểm nóng tôn giáo như vụ số 42 Nhà Chung, vụ Nhà thờ Thái Hà, và gần đây là vụ Nhà thờ Tam Tòa, Loan Lí...

Ba là, một số cá nhân, tổ chức tôn giáo chưa tuân thủ pháp luật, vẫn tổ chức truyền đạo trái pháp luật, xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự không xin phép, hành nghề mê tín dị đoan, lấn lướt chính quyền, tham gia vào chính trị, lôi kéo kích động quần chúng...

Nguyên nhân của những hạn chế trên trước hết là thuộc về nhận thức. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thức được rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như chưa nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác tôn giáo trong tình hình mới, vì vậy trong giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo thường rơi vào tả khuynh hoặc hữu khuynh. Nòng cốt của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, nhưng phương pháp, cách thức và nội dung vận động quần chúng của các ban, ngành, đoàn thể trong hệ thống chính trị còn thiếu cụ thể, cứng nhắc, xa dân, chậm đổi mới nên không thu hút được tín đồ tôn giáo. Bộ máy làm công tác tôn giáo chưa thực sự được quan tâm, đầu tư đúng mức, còn bất cập, chưa phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp nên giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị còn hiện tượng chồng chéo, lấn sân hoặc bỏ trống khi giải quyết vấn đề tôn giáo. Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, nhất là ở cấp cơ sở còn thiếu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của tình hình mới. Và một nguyên nhân quan trọng nữa là các chủ trương, quan điểm của Đảng còn chậm được thể chế hóa, hệ thống chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng chưa hoàn thiện, thiếu chế tài và còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn của từng vùng, từng địa phương, nên khó đi vào cuộc sống.

Trước thực trạng tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo ở nước ta hiện nay, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tôn giáo, trong thời gian tới cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:

Một là, Đảng ta cần kiên định tư duy đổi mới về tôn giáo, khẳng định tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hai là, tăng cường nghiên cứu lý luận chính trị và tổng kết thực tiễn triển khai các nghị quyết, chỉ thị của Đảng góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và hoạch định chủ trương, chính sách đối với tôn giáo trong tình hình mới.

Ba là, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thật sự tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo Hiến pháp, pháp luật. Đồng thời, phát huy tinh thần tự giác đấu tranh của quần chúng có đạo nhằm làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và làm mất ổn định chính trị.

Bốn là, cần tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và chính quyền cùng các đoàn thể chính trị xã hội trong công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo. Kêu gọi đầu tư và tăng cường thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao dân trí; tăng cường củng cố hệ thống chính trị, động viên quần chúng tôn giáo sống "tốt đời đẹp đạo", tích cực tham gia các phong trào cách mạng, các hoạt động từ thiện, nhân đạo...

Năm là, tuyên truyền nâng cao nhận thức về chính sách tôn giáo cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cấp cơ sở, xây dựng được đội ngũ đảng viên trong vùng đồng bào có đạo.

______________________

* Bài đăng nên Tạp chí Dân vận, số tháng 12-2009.

** Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương.