In trang

Nghị quyết 18-NQ/TU, ngày 07/10/2013 của Tỉnh ủy
Cập nhật lúc : 09:47 11/03/2014

Thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khoá XI), Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 13 (khoá XIV) quyết nghị về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới với những nội dung chủ yếu sau:

I.  ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Nhận thức tầm quan trọng của công tác dân vận trong tình hình mới, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận, đạt được những kết quả quan trọng; góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trong thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội; không để xảy ra điểm nóng, khiếu kiện đông người, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn và đẩy lùi những âm mưu và hành động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.  

 Nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xoá đói, giảm nghèo; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân đồng tình hưởng ứng và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Nổi bật là chủ trương định cư dân đầm phá, dân vạn đò trên sông Hương; chính sách xóa nhà tạm; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số; chính sách xóa đói, giảm nghèo, chính sách đoàn kết dân tộc, tôn giáo..., đã tạo sự đồng thuận và tin tưởng của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác vận động nhân dân được đổi mới. Hệ thống tổ chức Mặt trận và các đoàn thể thường xuyên được kiện toàn, củng cố, giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; tích cực đổi mới phương thức hoạt động và các hình thức vận động nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước và các hoạt động đối ngoại nhân dân. Quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên được chăm lo, bảo vệ; công tác tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên được chú trọng.

2. Tuy vậy, công tác dân vận vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Việc xây dựng và triển khai thực hiện; công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của Tỉnh ủy về công tác dân vận có lúc, có nơi chưa kịp thời; việc nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm trạng, nguyện vọng của một bộ phận nhân dân còn thiếu sâu sắc. Sự phối hợp trong công tác vận động quần chúng giữa các ban, ngành trên một số lĩnh vực chưa đồng bộ. Hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể, nhất là ở cơ sở còn nặng về hành chính.

Công tác dân vận trong các cơ quan Nhà nước chưa được quan tâm đúng mức. Một bộ phận cán bộ, công chức còn quan liêu, sách nhiễu nhân dân. Việc nêu gương của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện chưa tốt. Việc thực hiện quy chế dân chủ, nhất là trong các doanh nghiệp hiệu quả chưa cao; chưa khơi dậy tính tích cực, tự giác của các tầng lớp nhân dân trong phong trào xây dựng nông thôn mới, xây dựng nếp sống văn minh đô thị.

3. Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là: Nhận thức về công tác dân vận của một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa đầy đủ; chưa quan tâm đúng mức việc lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng hoạt động cho Mặt trận và các đoàn thể. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu gương mẫu. Phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận chậm được đổi mới. Tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể ở một số cơ sở yếu kém, giảm sút vai trò lãnh đạo, phối hợp thiếu chặt chẽ, chưa sát dân, chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân; công tác vận động, tập hợp quần chúng đặc thù chưa được chú trọng đúng mức.

 Tổ chức, biên chế và năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, Mặt trận và đoàn thể các cấp chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Chưa quan tâm đúng mức công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ làm công tác dân vận. Cán bộ cốt cán của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội chất lượng còn thấp; chính sách cho cán bộ cốt cán còn nhiều bất cập; vai trò của chi bộ chưa được phát huy trong công tác dân vận.

II. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM

1. Mục tiêu

Tiếp tục tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới nhằm củng cố ngày càng vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của các tầng lớp nhân dân, tạo nên phong trào hành động cách mạng xây dựng Thừa Thiên Huế giàu về kinh tế, đẹp về văn hóa, mạnh về quốc phòng, an ninh, sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Quan điểm

Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới cần nghiêm túc quán triệt các quan điểm sau:

- Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ.

- Động lực thúc đẩy phong trào nhân dân là phát huy quyền làm chủ và đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân. Thực hiện kết hợp hài hòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc chính đáng của nhân dân.

- Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của các cấp ủy Đảng phải gắn liền với công tác xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Mọi chủ trương, chính sách của các cấp ủy Đảng, của chính quyền các cấp phải phù hợp với lợi ích của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu để nhân dân tin tưởng, noi theo. Nghiêm túc thực hiện phương châm: Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

- Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Trong đó, cấp ủy Đảng lãnh đạo, chính quyền các cấp tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoàn thể làm tham mưu và nòng cốt. Chú trọng tăng cường và đổi mới công tác dân vận của các cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang; tập trung củng cố, xây dựng bộ máy chính quyền các cấp thật sự là chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

- Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thành quy định cụ thể để các tổ chức trong hệ thống chính trị; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và chiến sĩ lực lượng vũ trang thực hiện công tác dân vận; các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng, khoa học, hiệu quả, đặc biệt đối với các tầng lớp là trí thức, văn nghệ sĩ, đồng bào các dân tộc, tôn giáo.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1. Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ; tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc chính đáng của nhân dân; làm cho nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường mối quan hệ máu thịt của nhân dân với Đảng và Nhà nước

Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với việc thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; giữ vững lập trường tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ gìn phẩm chất, đạo đức và lối sống của cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; tạo bước chuyển biến thực sự trong công tác xây dựng Đảng. Trước mắt, thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp khắc phục khuyết điểm, hạn chế sau kiểm điểm; mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thật sự là tấm gương sáng ngay trong từng cơ quan, đơn vị.

Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, gương mẫu, tận tụy với công việc, nói đi đôi với làm để nhân dân tin tưởng, noi theo.

Triển khai, thực hiện tốt quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận và các đoàn thể, đồng thời hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện tốt ở cơ sở; tạo điều kiện để Mặt trận, các đoàn thể và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Tập trung giải quyết những bức xúc, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, nhất là về đời sống, việc làm, đền bù thu hồi đất đai, hỗ trợ tái định cư; khám, chữa bệnh, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội. Tích cực thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, phát hiện và xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; giải quyết dứt điểm những vụ việc khiếu kiện phức tạp. Trước mắt, tập trung xử lý những vụ việc sai phạm đã phát hiện qua thanh tra, kiểm tra và dư luận kéo dài.

2. Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí công tác dân vận trong tình hình mới

Tạo chuyển biến thực sự về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác dân vận. Quán triệt sâu sắc tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tạo động lực để nhân dân đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện tốt các quan điểm, chính sách và làm tốt công tác dân tộc, tôn giáo, công tác đối với người ViệtNam ở nước ngoài.

Tăng cường lãnh đạo đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan thông tấn, báo chí của địa phương và Trung ương đóng trên địa bàn; đẩy mạnh công tác tuyên truyền miệng với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, nhằm tạo sự đồng thuận xã hội trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chủ động đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch chống phá khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Chú trọng nhân rộng các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trên mọi lĩnh vực. Tăng cường đối thoại giữa lãnh đạo chính quyền các cấp với nhân dân, góp phần giải tỏa bức xúc, hoài nghi trong xã hội. 

Thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương về công tác dân vận của Đảng để mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, chiến sỹ lực lượng vũ trang đều là cán bộ dân vận của Đảng. Phát hiện, bồi dưỡng kỹ năng vận động nhân dân cho những người có uy tín trong cộng đồng dân cư, tạo điều kiện để họ tham gia tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự lan tỏa, sức sống của công tác dân vận trong tình hình mới.

3. Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của các cơ quan nhà nước

Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp tiếp tục đẩy mạnh công tác dân vận của các cơ quan nhà nước. Thực hiện nghiêm túc Quyết định 290-QĐ/TW, ngày 25/02/2010 của Bộ Chính trị và Quyết định 143-QĐ/TU, ngày 21/12/2010 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Thể chế hóa các quan điểm, chủ trương mới của Đảng thành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn địa phương. Trong xây dựng cơ chế, chính sách, cần quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc: “Mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải thuận với lòng dân, xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân”. Trước mắt, nghiên cứu sửa đổi những bất hợp lý; bổ sung và hoàn thiện các quy định về nhà ở, đất ở; chính sách về thu hồi đất, đền bù, giải tỏa mặt bằng, hỗ trợ tái định cư trên địa bàn tỉnh; ban hành các quy định, quy chế về thực hiện dân chủ ở cơ sở phù hợp với các quy định mới của Chính phủ.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới lề lối làm việc, chấn chỉnh thái độ phục vụ nhân dân. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính; quy định,  thái độ, văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong mối quan hệ với nhân dân. Công khai các quy định cụ thể về trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức để nhân dân biết và giám sát. Xây dựng và thực hiện phong cách: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”“nói ít, làm nhiều, làm có hiệu quả”. Tuyên truyền, cổ vũ và nhân rộng các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trên mọi lĩnh vực. Thực hiện tốt Quy định 101-QĐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Thực hiện nghiêm pháp luật, quy định của Nhà nước về các chính sách cụ thể đối với giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi. Thông qua thân nhân, Hội đồng hương Thừa Thiên Huế ở các tỉnh và Hội Liên lạc với Người Việt Nam ở nước ngoài, giữ mối liên hệ chặt chẽ, tốt đẹp, thân thiện; động viên bà con phát huy tinh thần yêu nước, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, truyền thống dân tộc, hướng về quê hương, đầu tư phát triển sản xuất, đóng góp công sức và trí tuệ để xây dựng Thừa Thiên Huế; tuyên truyền, quảng bá hình ảnh và bản sắc văn hóa Huế, đẩy mạnh đối ngoại nhân dân, góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân Thừa Thiên Huế với nhân dân các nước.

Xây dựng mô hình “Dân vận khéo” gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong các cơ quan nhà nước, nhất là những ngành, cơ quan, đơn vị có quan hệ trực tiếp với nhân dân. Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; tăng cường đối thoại, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân và giải quyết kịp thời đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Làm tốt công tác thanh tra nhân dân, công tác hòa giải ở cơ sở; chủ động nắm tình hình và giải quyết ngay từ cơ sở những công việc liên quan đến đời sống của nhân dân.

Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa Ủy ban nhân dân các cấp với các đoàn thể để huy động nguồn lực to lớn trong nhân dân vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực bảo đảm an sinh xã hội, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, giải quyết việc làm.

Đẩy mạnh công tác dân vận của các lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh; đặc biệt, giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai; tham gia giúp đỡ, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở; tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng đơn vị, cơ quan, xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu.

4. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, góp phần xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương

Đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với việc  “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và các phong trào do Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội phát động. Trọng tâm là hướng vào các phong trào thi đua xây dựng nếp sống văn minh đô thị, đẩy mạnh công tác bảo đảm cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp. Vận động mỗi cán bộ, hội viên, đoàn viên tham gia đóng góp tiền của, ngày công, tự nguyện hiến đất để xây dựng kết cấu hạ tầng như đường giao thông, trường học, nhà trẻ; đi đầu trong việc xây dựng nếp sống văn hóa, ứng xử văn minh, gắn liền với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tạo môi trường văn hóa lành mạnh ở cộng đồng dân cư.

Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, nắm bắt lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân để xác định nội dung và lựa chọn cách thức phát động các phong trào thi đua sát với thực tế của địa phương, đơn vị với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng.

Đẩy mạnh xây dựng mô hình “Dân vận khéo” trên tất cả các lĩnh vực ở tất cả các cấp, các ngành, chú trọng ở cơ sở, ở địa bàn dân cư, hướng mô hình “Dân vận khéo” vào xây dựng nông thôn mới, chỉnh trang và xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Vận động và tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân phát huy cao độ tiềm năng, sức sáng tạo, tích cực lao động, học tập, sản xuất, kinh doanh, làm giàu cho mình, cho cộng đồng và quê hương, đất nước; tham gia đấu tranh, phòng, chống tội phạm, tiêu cực và các tệ nạn xã hội.

5. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các hội quần chúng để tập hợp nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, tập trung cho cơ sở; tổ chức các hoạt động phải phù hợp với trình độ dân trí và đặc điểm, tình hình cụ thể của từng giai tầng xã hội, trong từng giai đoạn cách mạng; làm tham mưu và nòng cốt trong việc nắm bắt dư luận xã hội, phát huy dân chủ, năng lực trí tuệ, ý thức trách nhiệm của công dân trong thực hiện giám sát xây dựng chính quyền, xây dựng Đảng.

Phát triển các tổ chức quần chúng theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải, tạo môi trường và điều kiện để nhân dân phát huy sức lực, trí tuệ sáng tạo theo nguyện vọng trên cơ sở pháp luật. Nâng cao chất lượng hoạt động các tổ chức đoàn thể, đoàn viên, hội viên; phát hiện, lựa chọn những đoàn viên, hội viên ưu tú, đủ tiêu chuẩn để giới thiệu kết nạp vào Đảng, giới thiệu quy hoạch, đào tạo cán bộ. Phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ; tạo môi trường, cơ chế, chính sách thuận lợi cho tuổi trẻ rèn đức, luyện tài, lao động, học tập, phấn đấu, cống hiến cho đất nước. Coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng cho thanh thiếu niên trở thành những người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các hội quần chúng với chính quyền, lực lượng vũ trang trong công tác dân vận. Phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng. Làm tốt công tác đối ngoại nhân dân.

6. Quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ Ban Dân vận, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội các cấp vững mạnh

Củng cố ban dân vận các cấp, nghiên cứu bổ sung biên chế còn thiếu ở ban dân vận các cấp và mô hình ban dân vận trong Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh, Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh và ở các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy như Bệnh viện Trung ương Huế, Đại học Huế... Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham mưu về công tác dân vận ở các cấp ủy; chú ý luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất là cán bộ trẻ tuổi, có năng lực; kiên quyết không đưa cán bộ phẩm chất, năng lực yếu kém và không có uy tín về làm công tác dân vận.

Nâng cao chất lượng tham mưu về công tác dân vận của các ban xây dựng Đảng và các đoàn thể chính trị - xã hội. Kiện toàn tổ chức, bộ máy và cán bộ của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu về trình độ lý luận, năng lực thực tiễn và kỹ năng công tác vận động nhân dân.

7. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát việc thực hiện công tác dân vận

Đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận. Phải xác định công tác vận động và chăm lo lợi ích của nhân dân là một trong những nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình. Hàng quý và khi có tình hình đột xuất, các cấp ủy đảng, chính quyền và tổ chức dân vận các cấp có báo cáo định kỳ đối với tổ chức cấp trên trực tiếp về tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời. Các cấp ủy đảng lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân phối hợp chặt chẽ trong giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân và vận động nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân.

Các ban của Tỉnh ủy thường xuyên phối hợp, kiểm tra, giám sát chặt chẽ, vừa coi trọng giám sát chuyên đề theo chương trình, vừa tăng cường công tác giám sát thường xuyên trong quá trình triển khai thực hiện; đồng thời theo dõi, kiểm tra việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân vận.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các huyện ủy, thị ủy, Thành ủy Huế, các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, các ban đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng căn cứ vào Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới và Nghị quyết này để xây dựng kế hoạch, quán triệt và thực hiện Nghị quyết. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc để Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống.

2. Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, ban hành  các văn bản mới có liên quan, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Nghị quyết và giám sát việc thực hiện.

3. Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức tốt việc thi hành pháp luật; thường xuyên theo dõi, kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện của các cấp chính quyền, kịp thời điều chỉnh các chương trình, giải pháp về tăng cường công tác dân vận phù hợp với thực tế.

4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể chính trị - xã hội xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; tổ chức học tập, tuyên truyền phổ biến Nghị quyết cho đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân.

5. Ban Dân vận Tỉnh ủy chủ trì phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, các huyện ủy, thị ủy, Thành ủy Huế và đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết và định kỳ báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Nghị quyết này được quán triệt, phổ biến đến các chi bộ.