Đảng Cộng sản Việt Nam với công tác quần chúng - thực tiễn và một số kinh nghiệm
Cập nhật lúc : 21:34 01/02/2015
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vẻ vang.
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI CÔNG TÁC QUẦN CHÚNG - THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM*
ĐINH THẾ HUYNH**
(…)
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vẻ vang.
Với những thành tựu vĩ đại đã giành được trong hơn 80 năm qua, Việt Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; Việt Nam đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
Những thắng lợi vẻ vang nói trên bắt nguồn từ đường lối chính trị đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân đồng tình, ủng hộ; Đảng có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, gắn bó chặt chẽ với nhân dân. Quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân thật sự đã trở thành nguồn sức mạnh và truyền thống vô cùng quý báu của cách mạng Việt Nam.
Cùng với tiến trình cách mạng, trên nguyên tắc khách quan - toàn diện - lịch sử - cụ thể - phát triển, cần khẳng định một thực tế là ngày nay công tác quần chúng cần tiếp tục đổi mới, không chỉ để theo kịp, giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh, mà còn để xác định tầm nhìn có tính chiến lược và lâu dài. Đây không phải là vấn đề ra đời từ ý muốn chủ quan của những người cộng sản, mà xuất phát từ thực tế khách quan của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh và điều kiện đặc thù. Sự đổi mới đó là một trong các cơ sở lý luận - thực tiễn quan trọng để Đảng Cộng sản tiếp tục giữ vững vai trò là hạt nhân lãnh đạo phong trào quần chúng, tiếp tục lãnh đạo quần chúng làm nên những thắng lợi lịch sử mới.
So với những thời kỳ cách mạng trước đây, ngày nay quần chúng ở Việt Nam dã có sự chuyển biến về chất trong ý thức cách mạng, trong nhận thức xã hội và cuộc sống, đặc biệt là với mức sống, tri thức, sự hiểu biết... Đó là kết quả của quá trình giác ngộ cách mạng, của nâng cao dân trí và các lợi ích thiết thực mà xã hội mới đem lại thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và rèn luyện, qua trải nghiệm cuộc sống. Nói cách khác, trong giai đoạn hiện nay, quần chúng đã có những bước phát triển quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Đồng thời, nhu cầu, đòi hỏi của quần chúng cũng cao hơn về nhiều mặt. Điều đó đòi hỏi Đảng Cộng sản phải hoạt động sát với dân, phát huy vai trò tiên phong và gương mẫu để tiếp tục xây dựng, củng cố khối đoàn kết toàn dân, lãnh đạo nhân dân phấn đấu xây dựng chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng tốt đẹp hơn.
Trong tiến trình tiếp tục đổi mới và phát triển ở Việt Nam, cần phải nghiên cứu và giải quyết thỏa đáng những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan trực tiếp tới quần chúng như: quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với đô thị hóa, là phân bổ, tái cơ cấu lực lượng lao động, giải quyết việc làm và không ngừng nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống cho người lao động, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo... Đây là những công việc cực kỳ phức tạp, nếu không nghiên cứu tìm ra biện pháp giải quyết hợp tình, hợp lý để hạn chế đến mức thấp nhất các tác động tiêu cực tới cuộc sống của người dân thì có thể đẩy tới tình trạng suy giảm mềm tin trong nhân dân, làm rạn nứt quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Quán triệt quan điểm này, đứng trước các thách thức do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009, của lạm phát và suy giảm tăng trưởng kinh tế hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nêu cao quan điểm vì dân trong từng chủ trương và chính sách phát triển kinh tế - xã hội; chú trọng thực hiện kiềm chế lạm phát hoặc chống suy giảm kinh tế luôn đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Điều đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, củng cố quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam gắn với quá trình mở cửa, hội nhập và giao lưu quốc tế. Với quần chúng nhân dân, quá trình mở cửa, hội nhập và giao lưu quốc tế tạo ra tiền đề quan trọng để tiếp xúc và học hỏi, mở rộng, nâng cao tri thức... Song mở cửa, hội nhập và giao lưu quốc tế cũng đồng thời phải đối diện với thách thức là sự xâm nhập của lối sống ngoại lai, một số hiện tượng "phản văn hóa", một số quan niệm không phù hợp với văn hóa và đạo đức truyền thống, với chủ nghĩa xã hội, thậm chí chống lại chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, các thế lực thù địch thông qua nhiều phương tiện và dưới nhiều hình thức, hằng ngày hằng giờ gieo rắc các thông tin và luận điệu sai trái nhân danh "dân chủ", "nhân quyền", "tự do tôn giáo" nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; kích động bộ phận nhẹ dạ, thiếu hiểu biết trong nhân dân chống lại Nhà nước.
Thực tế đó đã và đang đòi hỏi, đồng thời với việc khuyến khích, tạo điều kiện cho quá trình mở cửa, hội nhập và giao lưu kinh tế - văn hóa để phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân, chúng ta phải nâng cao khả năng nắm bắt bản chất các xu thế tinh thần của nhân loại và ảnh hưởng của chúng đối với nhân dân, lựa chọn và điều chỉnh, đồng thời cảnh giác, kịp thời đấu tranh với thông tin và các luận điệu sai trái; tuyên truyền, bồi dưỡng, tổ chức quần chúng tự giác hoạt động noi gương người tốt, việc tốt.
Một trong các thủ đoạn mà các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội thường tiến hành để lung lạc quần chúng là sự truyền bá, cổ vũ các quan điểm thực dụng, đặc biệt là thực dụng trong lối sống và sử dụng các phương tiện hiện đại. Nếu quan niệm thực dụng trở thành phổ biến trong sinh hoạt xã hội thì nó sẽ thành một loại công cụ có khả năng làm con người xa rời lý tưởng xã hội, xa rời các giá trị văn hóa mang tính bản sắc và tính cội nguồn. Trong xã hội hiện đại đang tác động tới quần chúng một cách thường xuyên, mạnh mẽ. Đơn cử một vài số liệu về internet ở Việt Nam. Thống kê cho biết, tới cuối tháng 7-2011, Việt Nam đã có hơn 31,1 triệu người dùng internet (tương đương với gần 40% dân số). Và theo kết quả nghiên cứu Net index do Công ty Yahoo và Công ty Nghiên cứu thị trường Kantar Media thực hiện tại bốn thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ gần đây, thì trong hai tháng đầu năm 2011, số người sử dụng internet hằng ngày tại Việt Nam đã vượt qua báo in và báo nói. Cụ thể, số người dùng internet đạt 42% trong khi số người đọc báo in chiếm 40% và nghe đài phát thanh chiếm 23%. Một khảo sát khác của Công ty Nghiên cứu thị trường toàn cầu Nielsen cho biết, có đến 96% số người sử dụng internet tại Việt Nam đều đã từng ghé qua một trang mạng xã hội. Thêm vào đó, họ lại là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất từ các thông tin đăng trên mạng xã hội so với cư dân các nước khác trong khu vực Đông Nam Á. Mà chúng ta đã biết, internet là một thế giới "gồm cả vàng, lẫn rác", một thế giới rất sinh động và hấp dẫn, đa dạng về tính năng và tính hữu ích, nhưng lại luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm băng hoại đạo đức tinh thần của xã hội và của con người.
Thực tế ở Việt Nam từ nửa cuối những năm 1990 đến nay cho thấy, tính chất phức tạp của quá trình chuyển đổi và các tác động khó lường hết từ mặt trái của cơ chế thị trường, quá trình đô thị hóa, sự du nhập hoặc nảy sinh một số yếu tố không phù hợp với bản chất xã hội đã góp phần làm suy giảm đạo đức xã hội, tác động đến mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, cùng với sự phân hóa giàu nghèo, sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Một số tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể nhân dân chưa quan tâm đúng mức đến công tác quần chúng. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng vẫn nặng về hành chính... Và tình trạng này đã dẫn đến hậu quả là làm hạn chế việc phát huy khả năng to lớn, sức mạnh tiềm tàng của nhân dân trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Đảng chúng tôi cho rằng, những yếu kém, khuyết điểm nói trên do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan. Một mặt, về mặt nhận thức, không ít cán bộ trong các tổ chức của Đảng và cơ quan nhà nước chưa lường hết được tính chất phức tạp của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trên thực tế cũng chưa kiên trì tìm tòi, tổ chức thực hiện các biện pháp và hệ thống chế tài thiết thực, kịp thời để xử lý thật tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; nhất là để chế ước sự phát sinh những vấn đề xã hội có căn nguyên từ một số khuyết tật, mặt trái cố hữu của cơ chế thị trường, từ tác động tiêu cực của một số quan hệ kinh tế, văn hóa với nước ngoài. Mặt khác, công tác vận động quần chúng của các tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân chưa thật sự đổi mới phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới; chưa đấu tranh có hiệu quả chống quan liêu, tham nhũng và lãng phí trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền.
Từ những thành công và chưa thành công trong công tác quần chúng của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, phải quán triệt sâu sắc trong tư tưởng và thực hiện nhất quán trong công tác hằng ngày của Đảng và của từng cán bộ, đảng viên quan điểm mấu chốt: sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.
Hai là, không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những phương châm, phương thức cơ bản để đạt được những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Từ thực tiễn sinh động của Cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát thành nhiều luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, và Người đã tổng kết: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công".
Xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng ở mọi giai đoạn cách mạng. Đảng Cộng sản có sứ mệnh và phải không ngừng nâng cao tầm trí tuệ, sức chiến đấu, không ngừng bồi đắp uy tín, đổi mới phương pháp để giáo dục, tập hợp quần chúng thành những lực lượng tự giác, có tổ chức chặt chẽ trong khối đại đoàn kết, tạo thành sức mạnh ngày càng to lớn và vững chắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất giữa quyền lợi và nghĩa vụ công dân.
Trong xã hội do nhân dân làm chủ, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội gắn chặt và thống nhất với nhau, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp. Công tác vận động và tổ chức nhân dân chỉ có thể thành công khi Đảng, Nhà nước cùng các tổ chức khác trong hệ thống chính trị bảo vệ và đáp ứng trên thực tế những lợi ích thiết thân của người dân, từ đó kết hợp hài hòa các lợi ích, gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ công dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng lãnh đạo phải gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân, thực hiện tốt phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: "Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng"1. Người cũng nhấn mạnh, Đảng phải tận tâm, tận lực phụng sự nhân dân nhằm đem lại các quyền và lợi ích cho nhân dân: "Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự ra trò. Nghĩa là việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì có hại cho dân, thì phải hết sức tránh".
Bốn là, các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng, phong phú, thiết thực và hữu ích.
Trong xã hội có nhiều giai tầng khác nhau và ngay trong mỗi giai tầng cũng có nhiều nhóm xã hội khác nhau. Do đó, để tập hợp quần chúng, ngoài các tổ chức chính trị - xã hội, trong từng giai đoạn cách mạng cần có những hình thức tập hợp quần chúng phù hợp, đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống của từng nhóm, từng giai tầng, hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái, giúp nhau trong cuộc sống, trong sản xuất, kinh doanh để cùng phát triển... Các tổ chức quần chúng được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính được tổ chức trong phạm vi địa phương hoặc có quy mô toàn quốc, không nhất loạt giống nhau, đều được quản lý bằng pháp luật Nhà nước.
Năm là, công tác quần chúng và việc không ngừng nâng cao vai trò, hiệu quả của công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, của toàn bộ hệ thống chính trị.
Công tác quần chúng không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của các đoàn thể nhân dân, mà còn là trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, cần phải thường xuyên phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mọi cán bộ, đảng viên đều phải làm công tác quần chúng theo chức trách của mình.
Đây không chỉ là một trong những phương thức cơ bản để đổi mới, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, mà còn là phương thức trong cuộc đấu tranh quyết liệt của các lực lượng cách mạng chống lại các thế lực thù địch trên các lĩnh vực để vận động và tổ chức nhân dân tự giác đi theo con đường cách mạng, đập tan những âm mưu và thủ đoạn nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Sáu là, phát huy cao độ tính tích cực xã hội và sức sáng tạo của nhân dân trong các thời kỳ cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước gắn với sự kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là nét đặc sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác vận động quần chúng.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam trong hơn 80 năm đã khẳng định điều đó. Trong giai đoạn 2011-2020 và về lâu dài, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh, đổi mới công tác quần chúng theo phương châm cơ bản này, tạo thành những sức mạnh to lớn để xây dựng Việt Nam thành một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng, giữ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và toàn bộ sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới.
Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: toàn Đảng, toàn dân quyết tâm phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và đến giữa thế kỷ XXI trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới.
Để lãnh đạo nhân dân đạt được mục tiêu đó, Đảng Cộng sản Việt Nam phải tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác quần chúng, giữ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân. Theo đó, chúng tôi đang và sẽ triển khai mạnh mẽ các giải pháp dưới đây.
Một là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở phải nắm vững và làm đúng chức năng lãnh đạo quần chúng của mình bằng phương pháp vận động, thuyết phục, khắc phục lối làm việc quan liêu, hành chính, mệnh lệnh. Các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân; tin dân, tôn trọng nhân dân; làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏ tâm tư, tình cảm, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình.
Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chính sách đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các giai tầng trong xã hội.
Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Phát huy vai trò của giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cải thiện điều kiện nhà ở, làm việc... để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân.
Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân - chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả và bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo.
Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến. Có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước. Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Tạo điều kiện xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có trình độ quản lý, kinh doanh giỏi, có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội cao. Phát huy tiềm năng và vai trò tích cực của đội ngũ doanh nhân trong phát triển sản xuất kinh doanh; mở rộng đầu tư trong nước và nước ngoài; tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, hàng hóa, dịch vụ cho đất nước và xuất khẩu.
Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, lý tưởng đạo đức và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển trí tuệ và nhân cách cho thế hệ trẻ. Khuyến khích, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Thu hút rộng rãi thanh niên và nhi đồng vào các tổ chức do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm nòng cốt và phụ trách.
Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ, kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm của phụ nữ. Phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân của tổ chức cựu chiến binh các cấp. Động viên cựu chiến binh giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống, tích cực tham gia giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; xây dựng và củng cố hệ thống chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.
Quan tâm chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hóa, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc. Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, hoạt động của người cao tuổi trong xã hội và gia đình. Nghiên cứu xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách mới, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa các vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
__________________
* Bài đăng trên Tạp chí Dân vận, số tháng 1-2012.
** Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.290; t.6, tr. 88.
Bản quyền thuộc Thành ủy Huế
Vui lòng ghi rõ nguồn khi sao chép nội dung từ website http://thanhuyhue.vn/